văn hữu vườn tao ngộ

Nơi lưu trữ tác phẩm của PBTD và thân hữu. Liên lạc: phanbathuyduong@gmail.com

Friday, August 28, 2020

MANG VIÊN LONG ** Bên Tách Trà Khuya


Nghe tiếng ông Cổn từ đầu ngõ, nhìn thấy dáng ông lừng lững  bước vào sân – ông Thạch rất ngạc nhiên. Cảm thấy lạ. Đã chạng vạng rồi, ông ấy còn tìm đến làm gì nhỉ? Bấy lâu nay gặp nhau, hẹn hoài.  Rồi trôi đi như bao việc khác đã lạnh lùng trôi đi, nhưng ông Thạch không hề trách bạn. Ông hiểu ông Cổn – coi nhau như ruột thịt, ngay từ lúc ông ta từ miền Bắc trôi dạt về quê…

Ông Thạch không còn ở nhà cũ của hai đứa con. Ông đã quyết định không về ở với đứa con nào trong hai đứa con của ông từ hơn một năm nay rồi. Ông dành dụm được chút tiền đến mua một mảnh đất nhỏ gần tám mươi mét vuông, rồi dựng tạm mái nhà tranh trong khu vườn của người bạn học cũ năm xưa đã trở lại quê chuyên nghiệp trồng trọt, chăn nnôi từ sau ngày đổi thay 30 tháng Tư năm ấy bán lại…

Trong gần 5 năm sau khi bán đi ngôi nhà ở phố san sẻ đều cho hai con – Ông đã luôn di chuyễn từ nhà đúa con gái đầu, đến nhà người con trai út – nhưng nơi ông “ trụ “ lại tương đối lâu hơn, vẫn là nhà của cậu An. Ì ạch chuyện thi vào đại học mấy năm vì cái lý lịch – cuối cùng, An cũng xin cắt được hộ khẩu vào học ngành Thủy sản ở Nha trang. Chuyện nuôi trồng chế biến các loại hải sản thì chắc là không ăn nhập gì đến cái lý lịch “ không rõ ràng “ của An về  chuyện hai hoa mai vừa nở trên ve áo ông Thạch thì đã sớm héo tàn từ năm xưa rồi! Cá- tôm, mực, cua, v v v đâu có biết gì. dính líu gì đến ý thức, quan điểm, lập trường nhỉ?  Chúng chỉ là những con vật dùng để phục vụ cho cái miệng thôi mà. Về quê, An xin làm cho trại nuôi trồng thủy sản của huyện…Lương tuy rất thấp, nhưng cũng đủ nuôi cái miệng qua ngày…

Đám con ông Phúc - nhà kế  bên, cũng ì ạch chuyện lý lịch, đã liều mạng lần lượt vượt biển hết rồi. Ở trại về, gánh nặng gia đình của người vợ đã mất từ sau ngày ông lên trại 2 năm, khiến ông vừa trả hết nợ này, lại đến trả nợ khác. Lo cho hai đứa con nhỏ ăn đi học cũng đã mệt nhoài rồi, lấy “ cây “ đâu mà giao cho bọn chủ tàu như ông Phúc chủ hiệu vàng Thành Tín một thời lộng lẫy?  Phận nghèo, thời nào, cũng phải nhận sự khổ!

Người chị của An chẳng may “ lọt “ vào cái thời của ý đồ quay trở lại thời kỳ cải cách năm 56 theo kiểu Tàu, nên đã sớm biết phận lo tìm cho mình một cái nghề để kiếm ăn cho dầu ba năm liền cấp ba, đều là học sinh giỏi. Đạt học sinh giỏi văn cấp tỉnh. Không bước vào được ngưỡng cửa đại học, cô con gái ông không ngớt phiền trách cha từ nhiều năm sau đó. Mỗi lần nghe con hậm hực than trách, ông liền bỏ đi chơi đâu đó cả buổi không thiết làm gì nữa! Ông biết nói gì với con về cái quá khứ dài dặt và bất hạnh mà ông ( và bạn bè ông ) đã phải trải qua? Tuổi trẻ chỉ biết oán trách cái trước mắt. Chưa hề biết chia sẻ cái sau lưng. Nghĩ mà buồn…

Còn ông Cổn – từ miền Bắc hối hả xin về quê, không có chức danh gì mang theo ngoài quá trình 15 năm lao động giỏi ở công trường cũng vì cái “ gốc “ địa chủ đã khai từ thời còn đi học – nên mâm cỗ ở huyện và thị trấn không có chỗ nào dành cho ông cả, ngoài chân thủ kho hợp tác xã mua bán nhờ mấy năm sau cùng trước ngày 30 tháng 4 bị đau bệnh nên điều về sở thương nghiệp Hà Tây làm thủ kho ở dó. Về đến quê – ông biết dược chính xác người vợ cũ đã chết trong dịp tết Mậu Thân khi theo đoàn biểu tình lên phố. Đứa con trai duy nhất của ông lúc  xuống tàu còn nằm im trong bụng mẹ, đã đi lính thủy quân lục chiến, rồi lưu lạc vào nam cưới vợ, lập nghiệp - cũng không tìm ra tông tích.  Ông trở về. Gọn gàng với cái ba lô, chiếc xe đạp Phượng Hoàng, và mấy chục đồng tiền tiết kiệm. Nhưng viễn cảnh cuộc sống thì đang bề bộn ngổn ngang…

Tình cờ gặp ông Thạch sau hơn 21 năm ở giữa đường phố – ông Cổn không nhận ra, nếu ông Thạch không quá vui mừng dạn dĩ lên tiếng hỏi trước. Từ ngày ấy – cả hai đã coi nhau như hai anh em giống thuở còn đi học chung lớp 7 ở trường Hòa Bình.  Sau ngày người cha bị “ đấu tố “, ông Cổn cũng hết đường đến trường. Gia đình ông Thạch, tuy bị xếp loại “ tiểu tư sản “ nhưng sau đó – xin chỉnh sửa lại là “ tiểu thương” nên học hết năm lớp 8 mới nghỉ hẳn khi mẹ ông chết đi vì bệnh lao.  Họ thường lui tới thăm nhau bên tách trà ly rượu, khề khà trò chuyện mà không chút dấu diếm, sợ hãi.

Người vợ sau của ông Cồn ở Hà Tây nhất định không vào nam với ông khi biết rõ “ chức vụ “ thủ kho của ông, và hiện đang tạm trú trong một góc nhà kho chật hẹp. Hơn 20 năm phấn đấu, nhưng bản tính lờ đờ, chất phác – ông Cổn cũng không có được tấm thẻ đỏ như bao người ở Bắc về…Không có bằng cấp gì, không có thẻ đỏ, lại chẳng có người “ đỡ đầu “  nữa – nên ông Cổn như bóng cây khô trơ trụi ở quê. Ông thường nói với ông Thạch.: “ Mình giữ được chân thủ kho là may mắn lắm rồi còn gì? Mình phải lo giữ, để cho thiên hạ ăn mà… “. Về lại quê sau 21 năm - ông Cổn không có chút tài sản riêng nào khác như lúc ra đi năm 54. Ra đi với chiếc ba lô, trở về cũng với chiếc ba lô – nhẹ tênh…
        
Biết được ý định của ông Cổn sẽ ở lại chơi qua đêm, ông Thạch rất vui – vội xuống bếp loay hoay nấu mì sợi với trứng gà ( trứng gà của người bạn bên cạnh có thể lấy dùng rồi trả tiền sau cũng không sao). Hai tô mì sợi to súc hai quả trứng được ông Thạch dọn ra trên chiếc bàn nhỏ kê giữa sân cho thoáng mát, thay thế bữa cơm chiều muộn màng.

Ông Cổn nhìn tô mì bốc khói – cười thoải mái: “ Trời khiến tụi mình càng lớn, ăn uống càng ít lại – chứ nếu ăn như thời trai trẻ, thì có nước…ngủ đói!  Tôi đã bao năm ngủ đói rồi…”
Anh cứ việc ăn no – Ông Thạch liếc nhìn bạn –  sâm thì không có, chứ còn mì  sợi thì nhiều lắm đấy!

Anh khỏi lo – ông Cổn vừa múc muỗng mì lên – tôi có mang theo mấy gói mì tôm tiêu chuẩn nữa đây mà! – đêm nay đói lúc nào, mình ăn lúc dó…Hà hà, vậy là nhất xứ nẫu rồi còn ai hơn?

Dường như bao giờ ông Cổn đến thăm ( hay gặp ở đâu đó ) cũng mở đầu bằng một hay hai bài thơ có sẵn trong túi áo đọc cho ông Thạch nghe. Ông Cổn đâm ra có “ tật “ làm thơ, mê thơ từ ngày được về lại quê nhà. Hình như ở vào tuổi xế chiều, và sự cô độc – dễ làm cho người ta gần gũi, gắn bó với “ nàng thơ “ hơn? Gặp nhau chỗ vắng, nghe ông đọc thơ còn được. Giữa phố đông người – lại mang thơ ra đọc, thiên hạ dòm ngó với đôi mắt lạ lùng, đôi lúc khiến ông Thạch rất bỡ ngõ mà không dám nói. Đêm nay – ông đem theo cả quyển vở 100 trang ghi chép đầy thơ trao cho ông Thạch : “ Trong đây là tâm tình của tôi suốt bao nhiêu năm đã dược ghi lại, anh đọc thử thế nào? “. Ông Thạch cầm tập thơ, lật vào trong vài tờ - lặng lẽ đọc…

Ông Cổn vừa ăn, vừa phân trần:
Anh đọc rồi góp ý thử xem thơ tôi có …ra thơ không nhé?
Thơ là nỗi lòng, là chuyện riêng của anh – tôi làm sao biết hết mà góp ý đây? – Ông Thạch dè dặt.

Tôi biết anh lúc còn đi học đã làm thơ hay, nổi tiếng cả trường, hai mươi mốt năm vẫn làm thơ –  sao lại từ chối khéo vậy?

Tôi chưa hề nghĩ mình là “ nhà thơ”, mà chỉ làm thơ cho mình…Còn ai “ gán cho “ danh từ gì, tùy họ thôi mà!

Ông Cổn đặt muỗng và đũa xuống chiếc khay nhỏ - ngẩng lên, đọc thuộc lòng một bài thơ trong tập :

“ Ngày đi có vợ, có con…
Ngày về vợ đã chẳng còn bên ta?
Con thì phiêu bạt phương xa,
Đời ta còn lại bóng tà cuối thôn !
Nhớ thương da diết mỏi mòn,
Tìm đâu ngày cũ? Nước non dặm dài..”
Buồn ! Ông Thạch buông thõng..
Hỏi anh, đời tôi còn lại gì để vui nữa mà không buồn?
Chứ đời tôi có hơn gì anh đâu?
Nhưng anh đáng sống hơn tôi…

Ông Thạch không cãi lại – cắm cúi ăn. Ông nghĩ, sự im lặng lúc này là nỗi chia sẻ chân tình và lớn nhất dành cho bạn.  Hai tô mì đã hết. Ông Cổn tự lo dọn bàn, còn ông Thạch vào nhà trong mang ra khay trà  và gói Basto đỏ.

Đêm đang lan dần ngoài ngõ vắng. Bóng tối làm cho không gian im vắng đến lạ lùng. Sự vắng lặng lạnh lẽo cuối thu nơi góc vườn nhà thôn dã có lúc tưởng như trên mặt đất này chỉ trơ trụi hai bóng người còn thức - ngồi bên nhau. Gió thu dìu dặt. Nhẹ và se lạnh. Đêm dần vào khuya. Đất trời mỏng manh, mờ mịt…

Hai người vô tình cùng nâng tách trà lên một lượt – nhìn nhau, uống từng ngụm nhỏ. Ông Cổn chợt nói : “ Anh lật vào bài  “ Nhớ Em Ngày Ấy “ xem đi! “

Ông Thạch chìu ý bạn – lật tìm bài thơ. Cất giọng đọc lớn :

“ Em đến đời anh như bóng trăng,
Giữa đêm trừ tịch – buốt lòng anh..
Ánh trăng soi sáng đời anh mãi.
Một thoáng nhưng sao đẹp vĩnh hằng?

Anh tưởng đời anh đã bỏ đi,
Ngờ đâu em đến – tuổi xuân thì…
Duyên trao phận gởi, không hề tiếc
Che chở đời anh – buổi hàn vi! “

Ông Cổn  uống cạn tách trà, châm nước thêm cho mình và ông Thạch – giọng sang sảng; “ Anh nhớ ngày đó gia đình tôi bị cả xóm lánh xa, như lánh xa một nguồn bệnh nguy hiểm, nhưng cô ấy đã tự nhiên đến với tôi – chẳng hề để ý gì đến mọi lời đàm tiếu, kết án của đoàn thể – tự nguyên yêu thương, và sẵn lòng về làm vợ tôi bất cứ lúc nào…thì đúng là “ ánh trăng “ mầu nhiệm rồi – còn gì? “
- Vậy là đời anh cũng đã có một “ ánh trăng”, một mối tình quá đẹp rồi! – Ông Thạch hít một hơi thuốc, thả khói –  một đời, đôi khi có được một gặp gỡ tuyệt vời như vậy, cũng đủ rồi – anh à!
- Nhờ vậy tôi mới sống nổi ở ngoài đó hơn 18 năm lao động ngoài công trường quần quật đêm ngày để chờ đợi mỏi mòn ngày về được chứ anh?
Còn cô ở Hà Tây thì sao?

Năm 73 – tôi bị bệnh nặng nên được chuyễn về điều trị ở bệnh viện Hà Tây. Cô ấy là điều dưỡng…Cũng tình cờ gặp nhau rồi chung sống được mấy năm thôi!

Có con cái gì không?
Cô ấy đã lớn, khó có con – chỉ “ nương tựa “ nhau mà sống cho hết đời thôi…Ngặt nỗi, cô ta cũng rất xinh – nhưng thuộc thành phần tiểu tư sản nên chẳng có cán bộ cốt cán nào dám mó đến cả!

Vậy mới còn lại cho anh chứ? – Ông Thạch chợt cười, anh đã được… nhà nước “ chiếu cố “ lắm rồi, còn gì?
Đôi lúc, tôi cũng nghĩ như anh!
Hai bóng người ngồi bên nhau lặng lẽ.

Những tách trà đã cạn. Rồi đầy. Bao lần. Sự im lặng trôi qua - theo dòng, như đã chảy qua đời nhau hơn 21 năm gập ghềnh thác lũ. Họ đã còn lại, như những nhánh cây khô trôi dạt vào hốc đá –  chỉ chờ ngày rã mục.

Tiếng ông Cổn chợt vang lên: “À! mà anh cưới vợ vào năm nào? “.
Bảy mươi!
Muộn vậy?

Tôi nhỏ thua anh 4 tuổi mà!
Vợ của nhà thơ mà hào hoa như anh chắc là phải đẹp ?
Không đẹp lắm đâu – Ông Thạch ngập ngừng – nhưng cũng là “ cái duyên “ tình cờ đến với đời mình…Còn duyên thì ở, hết duyên thì đi – vậy thôi!

Tôi cũng tin vậy – ông Cổn đặt tách trà xuống – chẳng hạn như cuộc đời tôi…
Đêm lặng lẽ trôi qua. Mặt trăng thu 21 chênh chếch lơ lửng góc trời phía đông trông lạnh lẽo. Tiếng gà bâng quơ chợt gáy đơn độc từ góc vườn nhà người bạn như tiếng thở dài. Tắt lịm.
À! Tiếng ông Cổn bổng thốt lên – anh còn nhớ thằng Can-lùn làm lớp trưởng năm tụi mình học lớp 6 không? “

Nhớ! Can “ cốt cán “ mê con gái bà chủ nhà đó chứ gì?
Đúng rồi!
Mà sao?

Ra ngoài đó, được đi học – làm lớn lắm, có lần giáp mặt mình  ở Hà nội mà nó làm lơ – đã chết rồi!
Chết ở đâu?
Ngoài Bắc…

Ông Thạch xé bao thuốc ra, còn lại 2 điếu – chia cho ông Cổn một điếu – nhếch cười : “  Ngày xưa, có người thắp đuốc chơi đêm, vì nghĩ đời quá ngắn cũng phải. Cuộc đời ngắn ngủi thật. Hai mươi năm, rồi gần ba mươi năm – ngoảnh lại, có là gì đâu? “

Không biết anh nghĩ thế nào, chứ tôi  đêm nằm một mình nhớ lại – đúng là một giấc mộng anh à!
Vậy mà có lắm kẻ không bao giờ nghĩ được như vậy…
Họ là đám người đang say mà anh? Đã sỉn rồi, thì còn biết trời trăng gì nữa đâu?
Một cơn say dài dặc cả đời - Ông thờ dài.
Đêm sâu hút. Sương lạnh. Gió thu dạt dào, se thắt hơn.
Anh còn nhớ cô Thảo-Tây-lai không?

Biệt danh ấy làm khổ cô ta một thời rồi – anh nhắc lại làm gì?
Ai cũng biết Thảo đẹp, có gương mặt thanh tú , mũi, mắt giống phương Tây –  và làn da luôn trắng hồng, nhưng đâu phải là Tây-lai anh?

Đành vậy! – Thạch cười mơ hồ - anh có biết là lúc ra đi Thảo đã ở lại nhà tôi, khóc ròng một ngày không?
Có vậy sao?
Nói giỡn với anh làm gì?
Vậy là anh hạnh phúc quá rồi!
Nàng đi biệt ngay ngày hôm sau – năm 78 có về thăm quê…
Có thăm anh không?
Dĩ nhiên là có!
Rồi sao?

Nhìn nhau một lát, rồi…đường ai nấy đi thôi!
Chồng Thảo là thứ trưởng đó , ông à!
Tôi biết – Thạch  cười bâng quơ – Thảo có nói…
Sau khi được đi du học ở Nga về, Thảo làm ở Bộ Văn Hóa Thông Tin – và là…vợ ông thứ trưởng!

Đó cũng là một giấc mộng …
Ông Cồn búng mẫu tàn thuôc bay lên cao – vệt sáng vạch một đường cong phiền muộn…
Anh vào trong ngã lưng một lát đi! – Ông Thạch nói.
Còn anh?

Mang Viên Long