văn hữu vườn tao ngộ

Nơi lưu trữ tác phẩm của PBTD và thân hữu. Liên lạc: phanbathuyduong@gmail.com

Friday, January 20, 2012

HOÀNG LONG HẢI * Mùa xuân nói chuyện... mê gái


Tuổi Xuân, tuổi người


Người ta thường ví một đời người như bốn mùa xuân hạ thu đông. Vì vậy, mùa xuân là mùa của tuổi trẻ, mùa của yêu đương. Từ yêu đương mà đâm ra mê thì đâu có bao xa!

Đầu đề tôi viết là mê gái, mê vợ, nhưng có lẽ nào lại không có chuyện mê trai, mê chồng. Có điều lạ, trong lịch sử cũng như trong văn học, trong đời thường, đàn ông, con trai mê gái nhiều hơn đàn bà con gái mê chồng, mê trai.

Vậy thì bây giờ, nói cái gì trước, về phái nam hay phái nữ?

Nếu nói về đàn bà, trước hết xin nhắc đến câu ca dao:


“Tay mang khăn gói sang sông,

Mẹ kêu mặc mẹ thep chồng cứ theo.”


Sự kiện nầy, không hẵn chỉ có một mình cô gái trong câu ca dao nói trên, mà hầu như gần hết cô nào, bà nào cũng vậy. Nghe theo tiếng gọi của chồng là bỏ nhà, bỏ mẹ, có khi đi không quay mặt ngó lui nữa. Thế có phải là ... mê trai???

Người con gái VN khá lãng mạn. Này nhé: “Thương nhau cởi áo cho nhau, Về nhà mẹ hỏi qua cầu gió bay.” Ở cái xã hội xưa, nặng lễ giáo mà dám cởi áo cho.. trai, huống chi đời bây giờ thì sao?

Trong lịch sử nước ta (VN), người đầu tiên mê trai là ai?

Là Công chúa Tiên Dung đấy.

Cô là con vua Hùng Vương thứ 3, đi chơi tới môt khúc sông, thấy cảnh đẹp và buồn tình lên bãi cát bên sông tắm chơi. Các con hầu vây màn, che kín cho công chúa tắm. Nước sông trong mát, thế là công chúa dội ào ào vào mình. Nước làm cát trôi đi, làm lộ ra anh chàng đánh cá Chữ Đồng Tử đang phủ cát trên mình, trốn ở dưới. Tuy hoảng hồn, như công chúa Tiên Dung cũng đủ bình tĩnh hỏi ra cớ sự. Hồi xưa trai gái gặp nhau đã khó, huống chi gặp nhau trong cảnh ai nấy cũng A-Dong và Ê-Và. Thế rồi Tiên Dung bảo đây là duyên trời định, bèn chọn Chữ Đồng Tử làm chồng, và dựng nhà ngay ở bờ sông ấy mà sống với người mới.

Nhà vua gọi, Tiên Dung không chịu về. Vua cho quân lính đến bắt, chuyện xảy ra lung tung cả lên, để rồi cuối cùng, hai người cùng bay lên cõi tiên (xem phụ lục).

Câu chuyện nầy có vài điều vượt khỏi luân lý ngày trước. Công chúa Tiên Dung tự ý chọn chồng mà không hỏi ý kiến cha mẹ, nói chi tới việc xin xỏ phép tắc. Lấy nhau mà chẳng cưới hỏi gì cả, “ba miếng trầu” cũng không là điều trái phong tục, lễ nghĩa. Cha mẹ gọi không về! Không về, nếu không phải là mê trai thì là còn cái gì nữa đây???

Người ta thường tranh cải việc người đàn bà đã mê chồng nhưng ít thấy họ thiếu thủy chung. Chuyện Dương Quí Phi chẳng hạn. Có thể Dương Quí Phi yêu vua Đường Minh Hoàng nhiều lắm chứ, yêu thêm Lý Bạch, lại yêu luôn cả An Lộc Sơn, nên mới có cái loạn An Lộc Sơn?

Bao Tự có khác chi?

Châu U Vương mê Bao Tự đến nỗi cho phóng hỏa trên núi Cam Tuyền. Thế nhưng Bao Tự có thủy chung với Châu U Vương đâu? Tây Thi của Ngô Phù Sai, lại bỏ theo Phạm Lãi sau khi ngai vàng Ngô Phù Sai sụp đổ. Còn như “con Điêu Thuyền” (tiếng gọi của mấy bà ưa đọc truyện xưa) thì quá lắm. Trong khi làm vợ Đổng Trác, lại liếc mắt đưa tình với Lữ Bố. Có người bênh vực, cho rằng Điêu Thuyền “hoàn thành xuất sắc” cái nhiệm vụ được giao đấy!


Quốc sắc Thiên hương”

(Sắc đẹp đàn bà con gái)


Văn chương không thiếu những câu tán tụng sắc đẹp đàn bà con gái.

Quốc sắc triêu hàm tửu

Thiên hương dạ nhiễm y


Có nghĩa là “Sắc nước sáng say rượu. Hương trời tối ướt áo.

Điển tích về người đẹp thì như trong Cung Oán Ngâm Khúc viết:


Chìm đáy nước cá lờ đờ lặn
Lửng da trời nhạn ngẩn ngơ sa
Hương trời đắm nguyệt say hoa
Tây Thi mất vía, Hằng Nga giật mình


Câu thứ nhứt thứ nhì là “Chim sa, cá lặn”, câu thứ ba là “nguyệt thẹn, hoa nhường”. Câu cuối có nghĩa là đẹp hơn cả Tây Thi, Hằng Nga.


Nụ cười của Bao Tự hay của giai nhân làm tốn không biết bao nhiêu giấy mực:

Thơ Vương Tăng Nhu vịnh người hầu yêu: “Nhất tiếu thiên kim mãi” có nghĩa là “một nụ cười nghìn lạng vàng cũng mua”.

“Nhất tiếu khuynh quốc, tái tiếu khuynh thành”. Cười một cái thì làm “nghiêng nước”. Cười lần nữa thì “nghiêng thành”, người ta thường gọi tắt là “Nghiêng nước, nghiêng thành”.


Sắc đẹp làm cho “nghiêng nước nghiêng thành” mà người đời ca ngợi, có hay ho gì đâu? Đó là thói đa tình, cái đa tình chỉ làm hư thiên hạ. Người xua họ cũng biết đấy chứ: Khuynh quốc khuynh thành vị đa tình” (Nghiêng nước nghiêng thành bởi thói đa tình)

Biết thì biết vậy mà bỏ thì không bỏ được. Thành ra, Tự cổ mỹ nữ danh họa thủy (Từ xưa người con gái đẹp đều là mối tai họa).

Cái đẹp của người đàn bà, và cái giỏi của người đàn ông gần nhau mà kết quả ngược nhau: Kinh thi có câu:


Triết phu thành thành, Triết phụ khuynh thành.

Nghĩa là: Người đàn ông giỏi dựng nên một thành trì, người đàn bà đẹp làm nghiêng đổ thành trì.


Tây Thi, Chiêu Quân, Điêu Thuyền, Dương Quí Phi


Hồi còn nhỏ, nhỏ lắm, nhà tôi ở cạnh bệnh viện Quảng Trị, tôi từng thấy một anh thanh niên bị bệnh điên. Người ta bảo anh ấy bị sa tình. Sa tình là cái gì? Là sa vào đường tình ái, rồi thất tình nên phát bệnh điên. Tôi không tin điều ấy. Nhưng khi lớn lên, đọc lịch sử, lịch sử văn học, tôi thấy nhiều người, phần nhiều là đàn ông, mê gái còn hơn bị bệnh điên nữa, yêu hay mê đến nỗi xiêu đổ thành quách, đến nỗi mất nước mất nhà thì không là điên hay sao, hay còn tệ hại hơn cả điên, hơn cả “đem tiền cho gái có đòi được không?” Mất tiền là còn nhẹ quá. Trong lịch sử, người ta còn “nặng” hơn nhiều.



Số đàn ông mê gái thì đông hơn mà cũng khủng khiếp hơn. Người ta có thể điểm mặt từng người trong sách sử:

Vua Châu U Vương mê Bao Tự chẳng hạn.


1)- Châu U Vương

nước mất nhà tan” vì Bao Tự:

U Vương nhà Tây Chu vì mê Bao Tự đến nỗi mất mạng, mất nước. Dĩ nhiên, Bao Tự là một giai nhân, tuy không được liệt vào “tứ đại mỹ nhân” của Tầu.

Trong văn học Tầu có câu “Nhất tiếu thiên kim”, có nghĩa là nụ cười đáng giá ngàn vàng cũng chưa nói hết cái tai hại của nụ cười Bao Tự. Còn như câu “Nhất tiếu khuynh quốc, tái tiếu khuynh thành” (cười làm nghiêng nước, nghiêng thành) thì cũng xứng với nụ cười Bao Tự.

Bao Tự ít khi cười, mà khi đã cười thì làm mê mẩn tâm thần ông vua nhà Chu. Vì vậy, ông Châu U vương bèn tìm cách làm cho Bao Tự vui, Bao Tự cười.


Trong Tỳ Bà Hành có câu Bình bạc vỡ tuôn đầy mạch nước, Ngựa sắt rong, sàn sạt tiếng đao, Cung đàn lựa khúc tiêu tao, Tiếng buông xé lụa, lựa vào bốn dây là nói tới nụ cười Bao Tự. Đó là việc thứ nhất Châu U vương cho xé lụa từng cây làm cho Bao Tự cười. Tiếng lụa bị xé vang lên nghe như tiếng đàn.

Thứ hai là khói báo tin có giặc. Trong Chinh Phụ Ngâm có câu: “Khói Cam Tuyền mờ mịt thức mây” (Trống Trường thành lung lay bóng nguyệt, Khói Cam Tuyền mờ mịt thức mây) là việc Châu U Vương đốt lửa trên “Phong hỏa đài”.

Phong hỏa đài là một phương tiện thông tin ngày xưa, để báo cho chư hầu biết kinh đô có giặc. Một hôm U Vương cho đốt khói lên, chư hầu tưởng có loạn kéo quân về cứu giá. Té ra đó chỉ là việc vua nhà Châu gạt chư hầu cho Bao Tự cười vui. Cái trò chơi dại dột ấy làm cho chư hầu tức giận. Về sau, khi giặc có thật, vua đốt khói trên Phong hỏa đài, chư hầu cứ nghĩ rằng vua lại gạt, nên không đem quân về, để cho U Vương nhà Chu bị giạc giết chết ở núi Ly. Bao Tự thuộc về tay rợ Khuyển Nhung, cuối cùng thắt cổ tự tận, xong một đời khuynh quốc khuynh thành.


2)- Hán Nguyên Đế giữ được giang sơn nhà Hán,

nước Tầu được yên nhờ có Chiêu Quân

Chiêu Quân còn gọi là Vương Tường, Vương Chiêu Quân, một trong “tứ đại mỹ nhân”. Cái đẹp của Chiêu Quân thuộc hàng “chim sa” trong thành ngữ “chim sa cá lặn”, Tầu gọi là “trầm ngư lạc nhạn”. Trong “Cung Oán Ngâm Khúc” có câu “Lững da trời nhạn ngẩn ngơ sa” là mượn điển tích nầy.

Sách cũ viết rằng khi Chiêu quân sang đất Hồ, ngang qua một sa mạc lớn, lòng buồn vì thân phận, vì xa quê, đang ngồi trên lưng ngựa, Chiêu quân bèn gãy bản đàn tên “Xuất tái khúc”. Tiếng đàn hay đến nỗi con ngỗng trời đang bay ngang qua, nghe tiếng đàn mà ruột gan đứt đoạn, sa xuống đất chết. Đó là điển tích “lạc nhạn”

Hồ Hán Tà là vua xứ Hung Nô dọa đem quân đánh phá nước Tầu, nếu vua Tầu không gả cho y một công chúa. Thay vì gả công chúa, vua Nguyên Đế nhà Hán gả cho y 5 cung nữ, dĩ nhiên, cung nữ thì không ai xấu bao giờ. Thấy vua Hán lấy 5 mà đổi 1, y bằng lòng. Một trong năm cung nữ, có Vương Tường.

Tuy nhiên, trường hợp Chiêu Quân có nhiều oan trái hơn.

Chiêu Quân vốn có sắc đẹp tuyệt hạng, lại có tài đàn hay hát giỏi. Vì vậy, khi được tuyển vào cung, Chiêu Quân không chịu đút tiền hối lộ cho tên thợ vẽ Mao Diên Thọ. Mao Diên Thọ trả thù bằng cách khi vẽ hình Chiêu Quân xong, y thêm một chấm đen dưới con mắt của cô. Sách tướng nói chấm đen đó là nốt ruồi “thương phu trích lệ” (Giọt nước mắt khóc chồng), tức là tướng sát phu (giết chồng).

Khi gọi Chiêu Quân lên để đưa sang xứ Hung Nô, nhà vua thấy Vương Tường đẹp quá, muốn giữ lại, nhưng ngại triều thần, đành phải cho đi mà lòng tiếc rẻ.

Về cái chết của Chiêu Quân có nhiều giả thuyết khác nhau:

a)- Đến Nhạn Môn Quan, Chiêu Quân gieo mình xuống sông tự vẫn. Khi đi qua cửa ải cuối cùng nầy, Chiêu Quân cảm tác nhiều bài thơ hay, hòa cùng tiếng đàn của Chiêu Quân, trở thành điển tích Hồ Cầm.

Cung thương làu bậc ngũ âm

Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một chương

là hai câu thơ nói về tài đàn của Thúy Kiều (truyện Thúy Kiều)

b)- Chiêu Quân đến đất Hồ, nàng yêu cầu vua Hồ giết chết gian thần Mao Diên Thọ, rồi sau đó nàng tìm cách tự tử, nhảy xuống sông để xác nàng theo dòng trôi trở về đất Trung Nguyên.

c)- Một thuyết khác cho rằng Chiêu Quân đã sống một thời gian dài bên Hung Nô.

Chiêu quân đã góp phần mang lại hòa bình trong 60 năm giữa nhà HánHung Nô.

Phải nhờ đến sự hy sinh của một người đàn bà để vua quan dân chúng Tầu được yên thân, có thể đó là điều không vinh dự gì cho người Tầu và cho cả lịch sử Tầu.

Người Việt Nam khéo léo phê phán bằng một bài thơ:

Vương Tường oán triều đình (1)

Vật chi muông cỏ dám lăng loàn?
Âu hẵn trong triều ít kẻ ngoan?
(2)
Mặt thấy thư Hồ, văn vỡ mật,
(3)
Tai nghe nhạc bắc, võ run gan.
Mỡ thơm luống để nuôi thù khấu?
(4)
Bùn sũng nào hay đắp ải quan?
Vực nước ví dầu tài Vệ, Hoắc, (
5)
Tanh hôi chi để lụy hồng nhan ?

ghi chú:

1)- Vương Chiêu Quân là cung nữ của vua Hán Nguyên Đế, gả Chiêu Quân cho chúa Hung Nô để đổi lấy quan hệ hòa hiếu. Nàng chịu sang Hung Nô nhưng cuối cùng vì buồn thương và uất hận nàng đã tự vẫn.

2)- Câu thơ 3 và 4: Sự hèn nhát của các quan trong triều.

3)- Chỉ Diên Thọ, tên thợ vẽ gian tham

5)- Thù khấu: Kẻ thù

5)- Vệ, Hoắc: Vệ Thanh, Hoắc Khứ Bệnh, hai người đánh tan được quân Hung Nô (đời Hán)

Năm 1309, Huyền Trân Công chúa về Chiêm quốc với Chế Mân. Triều thần có người không thuận. Trong dân chúng có bài thơ nói về việc Chiêu quân cống Hồ để ám chỉ việc gả công chúa Huyền Trân.



Vua Hán dụ Vương Tường

gả cho chúa Thuyền Vu


Hán Hồ dẫu muốn vẹn trăm đường

Há trẫm riêng tây có phụ nường

Bắc quốc tuy rằng ngoài dị vực

Biên đình song cũng một biên cương

Ở đây hạnh thắm nên mai nhạt

Về đấy sen tàn lổi cỏ hương

Hơn thiệt tôi đừng ai oán nữa

Chờ ngày áo gấm lại hoàn hương.


Việc ví von như thế nầy là khiên cưỡng. Hành động của Huyền Trân Công Chúa cao quí hơn hành động của Vuơng Tường nhiều!


Quang Dũng có bài thơ chê vua Hán như sau:


Tuyết lạnh che mờ trời Hán Quốc

Tì bà lanh lảnh buốt cung Thương

Tang tình năm ngón sầu dâng lệ

Chiêu Quân sang Hồ xừ hồ xang


Đây Nhạn Môn Quan đường ải vắng

Trường Thành xa lắm Hán Vương ơi!

Chiêu Quân che khép mền chiên bạch

Gió bấc trời Phiên thấm lạnh rồi


Ngó lại xanh xanh triều Hán Đế

Từng hàng châu lệ thấm chiên nhung

Quân vương chắc cũng say và khóc

Ái khanh! Ái khanh! Lời nghẹn ngùng


Hồ xang hồ xang xự hồ xang

Chiêu Quân nàng ơi lệ dâng hàng

Lã chã trời Phiên mưa tuyết xuống

Chiêu Quân sang Hồ, xừ hồ xang.


Tản Đà có bài văn tế



Cô ơi, cô đẹp nhất đời

Mà cô mệnh bạc, thợ trời cũng thua

Một đi, từ biệt cung vua

Có về đâu nữa, đất Hồ nghìn năm!



3)- Trường Hận Ca:

thiên tình hận giữa Đường Minh Hoàng và Dương Quí Phi


Khi xưa ta là Đường Minh Hoàng

Ta mơ nàng làm Dương Quí Phi

(Diễm Trang - Vũ Hân)


Dương Quí Phi (719- 756, sau CN) cung phi của vua Đường Minh Hoàng, một trong “tứ đại mỹ nhân”, sắc đẹp khiến hoa héo vì hổ thẹn (tu hoa).


Dương Quý Phi tên thật là Dương Nguyệt Nhi, sau gọi là Dương Ngọc Hoàn, quê ở Tứ Xuyên. Năm 17 tuổi, Ngọc Hoàn được tuyển vào cung làm vợ Thọ Vương Lý Mão, con vua Đường Minh Hoàng. Khi ấy Lý Mão còn nhỏ lắm.

Khi ấy, Vũ Huệ phi, rất được Đường Minh Hoàng sủng ái, mới qua đời. Vua Đường thương nhớ vô cùng.

Cao Lực Sĩ bèn lập mưu, đưa Ngọc Hoán vào chùa chăm sóc nhang khói cho Vũ Huệ Phi. Sau đó, đưa Ngọc Hoán vào chầu Đường Minh Hoàng. Nhà vua được Ngọc Hoán, bèn say mê, phong làm Quí Phi, gọi là Dương Quí Phi. Như vậy, có nghĩa là Dương Quí Phi lấy cha chồng.

Dương Quí Phi thường đi tắm suối ở Tây An. Nay ở đây người ta dựng tượng Dương Quí Phi tắm suối để kỷ niệm (xem hình)



Câu chuyện tình Lý Bạch và Dương Quí Phi

Lý Bạch là người nổi tiếng hay thơ. Ai cũng ca ngợi. Riêng Cao Lực Sĩ và Dương Chấp Trung, anh của Quí Phi, chê rằng tài Lý Bạch chỉ đáng mài mực và cởi giày cho thiên hạ.

Bấy giờ vua Hung Nô gởi thư cho vua Đường Minh Hoàng bằng tiếng Hung Nô. Triều thần không ai đọc được, vua phải triệu Lý Bạch vào. Lý Bạch đọc thư và giải thích cho vua nghe. Vua rất tán thưởng, lệnh cho Lý Bạch viết thư trả lời. Bạch vâng mệnh nhưng để trả mối hận bị chê bai, xin vua ra lệnh Cao Lự Sĩ cởi giày và Dương Chấp Trung mài mực cho ông ta viết thư.

Dương Quí Phi và Lý Bạch là người cùng thời. Lý Bạch cũng được Đường Minh Hoàng trọng vì tài, thường vời vào cung cùng vua và Dương Quí Phi ngắm hoa, ngắm cảnh và làm thơ. Bạch Cư Dị làm thơ tả sắc đẹp Dương Quí Phi, có hai câu đời sau còn nhắc nhở:


Phù dung như diện, liễu như mi

nghĩa là mặt như hoa phù dung, mày như lá liễu.


Về sau, Đường Minh Hoàng không còn trọng đãi Lý Bạch nữa, ông xin cáo quan, chỉ xin một điều, vua ban cho một lệnh bài, đi đến đâu, uống rượu khỏi trả tiền. Chủ quán nhận tiền ở quan lại địa phương.

Một đêm, Lý Bạch quá say, chơi thuyền trên sông. Thấy trăng ở đáy nước, bèn nhảy xuống sông, ôm trăng mà chết.

Tôi không tin câu chuyện nầy. Quan hệ giữa Lý Bạch và Dương quí Phi có thể quá gần gũi, không khiến cho Đường Minh Hoàng ghen hay sao! Vì vậy, khi Đường Minh Hoàng không ái mộ Lý Bạch nữa nên Bạch buồn tình xin cáo quan. Biết đâu, cái đêm trăng Lý Bạch chết, không phải ông ta nhảy xuống sông mà có thể một tên nào đó, giả dạng theo hầu Lý Bạch, đã đạp cho ông ta một đạp rớt xuống sông, để Đường Minh Hoàng thỏa mãn cái tính ghen.

Chuyện đã gần hai ngàn năm. Thuở ấy, sợ vua, ai dám điều tra. Ngày nay dù “ăn ốc nói mò”, biết đâu lại là chuyện thiệt!!!

Sắc đẹp Dương Quí Phi

Như đã nói, sắc đẹp của Dương Quí Phi được Bạch Cư Dị mô tả là “Phù dung như diện, liễu như mi”. Xin nói thêm, hoa phù dung là tên chữ. Tiếng Việt gọi là bông cẩn, người Bắc gọi là hoa dâm bụt.


Lý Bạch trong Thanh Bình Điệu ca tụng sắc đẹp của Ngọc Hoàn.


Vân tưởng y thường, hoa tưởng dung,

Xuân phong phật hạm, lộ hoa nùng.

Nhược chi quần ngọc sơn đầu kiến,

Hội hướng Đao đài nguyệt hạ phùng.


Ngô Tất Tố dịch:

                    Thoáng bóng mây hoa, nhớ bóng hồng.

Gió xuân dìu dặt giọt sương trong

Ví chăng non ngọc không nhìn thấy,

Dưới nguyệt đài Dao thử ngóng trông.


Trong “Trường Hận Ca”, bài thơ nói về mối hận tình giữa Đường Minh Hoàng và Dương Quí Phi (vua ra lệnh giết cô ta), Bạch Cư Dị tả sắc đẹp của Dương Quí Phi như sau:


Qui lai trì uyển giai y cựu

Thái Dịch phù dung Vị Ương liễu;
Phù dung như diện liễu như mi

Đối thử như hà bất lệ thùy?

Cũng trong bài thơ, tả tình vua Đường Minh Hoàng nhớ Dương Quí-Phi có câu:

Phù-dung như diện liễu như my” nghĩa là hoa phù-dung như mặt, lá dương-liễu như mày.


Tản Đà dịch:

Phù dung đó! Mặt ai đâu tá?
Mày liễu đâu? Cho lá còn như!
Càng trông hoa liễu năm xưa,
Càng xui nước mắt như mưa ướt đầm.


Nhà thơ Đinh Hùng tán tụng:

...Thoáng nét sương, nụ cười in khuôn ngọc,
Em bâng khuâng hé nửa cặp môi hồng,
Mắt nhắm nghiền, và sóng ngực rung rung,
Hơi thở ấm não nùng hương phấn dại ...
(
Giáp Mặt Phù Dung)


Phù dung, trong tiếng Việt, cũng có nghĩa là “hút thuốc phiện”, có khi gọi là “Ả Phù Dung”. Đinh Hùng là một đệ tử của “Ả”.

Khi ở cung, Dương quí Phi thường nhớ nhà. Môt hôm ra vườn ngự uyển, nhằm lúc hoa đang nở rộ. Thấy hoa, Dương Quí Phi than thở phận mình, nước mắt tuôn rơi. Khi Phi đưa tay sờ vào hoa, hoa khép cánh lại. Do câu chuyện nầy, sử Tầu gọi Dương Quí Phi là “người đẹp tu hoa”, nói theo thành ngữ là “hoa nhường nguyệt thẹn”.

Có người không tin câu chuyện hoa nầy, cho rằng thiên hạ vẽ vời, biết đâu Dương Quí Phi sờ nhằm vào cây mắc cở, văn vẻ thì gọi là cây trinh nữ.


Dương Quý Phi đã đẹp lại có tài gẩy tì bà, giỏi về âm nhạc.

Nàng lại đặt được nhiều khúc hát và điệu múa làm cho Huyền Tông càng thích thú say sưa hơn.


Loạn An Lộc Sơn

An Lộc Sơn (ALS), gốc là người “Rợ Đột Quyết” là tướng được Đường Minh Hoàng yêu vì. Khốn nỗi, Dương Quí Phi lại tư thông với ông tướng đẹp trai nầy. An Lộc Sơn thù ghét Dương Quốc Trung, anh của Dương Quí Phi. Ông nầy dựa vào thế em gái, lộng quyền ở cung. An Lộc Sơn đem quân về Trường An, quyết dẹp bỏ gian thần.

Quân của An Lộc Sơn đánh bại quân của triều đình.

Vua Đường Minh Hoàng phải nhường ngôi cho con để lên làm thái thượng hoàng. Tuy vậy, quân của triều bình vẫn liên tiếp bị đại bại. Thượng hoàng cùng Dương Quí Phi chạy vào đất Thục.

Đến Mã Ngôi (năm 756), binh lính không chịu chống giặc nữa. Chúng buộc nhà vua phải giết Dương Quí Phi mới chịu tuân lệnh vua vì cho rằng chính sự giam dâm giữa Dương Quí Phi với ALS mới gây nên mối loạn nầy.

Vì sức ép của binh lính, Đường Minh Hoàng ra lệnh thắt cổ Dương Quí Phi, lúc ấy bà mới 38 tuổi, chôn xác ở ven đường.

Sau đó vua quan nhà đường dẹp được loạn AnLộc Sơn, giành lại đất đai cũ.


Dương Quí Phi là giai nhân. Câu chuyện tình giữa bà và An Lộc Sơn không phải là sự dâm dục mà ra? Vua thì đã già, lại từng hoang dâm vô độ, làm sao “gánh” Dương Quí Phi đang tuổi hồi xuân.

Sự dâm dục đã tạo nên một thiên tình hận, mà Bạch Cư Dị gọi là “Trường Hận Ca”. Không ít người tiếc cho cái sắc đẹp của bà, nên cũng không ít người làm thơ.

Người xưa đâu thì tận mắt tôi không thấy, nhưng thi sĩ Vũ Hân khi dạy trường Bồ Đề Huế thì tôi gặp không ít lần, gặp ngoài đường phố, hay ở tòa soạn báo Mùa Lúa Mới hay ở nhà thi sĩ Đỗ Tấn. Nhìn ông thấy mà tội nghiệp. Ông bị tật bẩm sinh, đi đứng không bình thường. So sánh ông với Đường Minh Hoàng thì cũng là khiên cưỡng. Và ông cũng có một Dương Quí Phi. Điều đáng buồn là sau khi Dziệt Cộng “giải phóng miền Nam”, ông bị đuổi khỏi trường Bồ Đề, và Dương Quí Phi của ông cũng “ôm cầm thuyền ai”, theo một An Lộc Sơn “nón cối dép râu”. Ông chết trong cảnh nghèo đói, cô đơn (xem phụ lục)


Ông cũng từng mơ Dương Quí Phi hay sao nên ông ước:


Khi xưa ta là Đường Minh Hoàng

Ta mơ em là Dương Quí Phi.”

4)- Ngô Phù Sai

mất nước vì Tây Thi?

Sự ưu ái của Ngô Phù Sai đối với Tây Thi, trong sử sách cũng ít thấy ai sánh bằng. Để làm vui lòng giai nhân, vua sai:

  • Dựng Cô Tô đài
  • cung Quán Khuê ở núi Linh Nham, trang sức toàn bằng châu ngọc để làm chỗ cho Tây Thi ra chơi.
  • Ở đấy có lập ra Hưởng Điệp lang. Tại sao lại gọi là Hưởng Điệp? Điệp là chiếc guốc. Nguyên là người ta đào hầm ở dưới đất chỗ hành lang, đặt ở đấy rất nhiều chum, bên trên lát ván, để Tây Thi và cung nhân đi guốc lượn ở đấy, tiếng kêu leng keng, cho nên gọi là hưởng điệp.
  • Trên núi có hồ Ngoạn Hoa, ao Ngoạn Nguyệt.
  • Lại có giếng gọi là giếng Ngô Vương, nước trong suốt, Tây Thi thường đứng ở trên mà soi mặt, Phù Sai đứng ở bên cạnh, sẽ lấy tay vuốt tóc cho Tây Thi.
  • Lại có động gọi là động Tây Thi, Phù Sai và Tây Thi cùng ngồi ở đấy, đá ở ngoài cửa động có nhiều chỗ sụt, nay người ta gọi là vết chân Tây Thi.
  • Trên núi lại có Cầm Đài, Phù Sai thường cùng với Tây Thi gẩy đàn ở đấy.
  • Phù Sai lại sai người trồng hoa ở Hương Sơn, để Tây Thi và cung nhân chở thuyền đi hái hoa. Nay vẫn còn một dãi nước ở phía nam núi Linh Nham, đó tức là chỗ Tây Thi hái hoa ngày xưa.
  • Lại có Thái Liên hình ở phía đông nam thành đô, đó là chỗ Phù Sai cùng Tây Thi hái sen.
  • Phù Sai lại bắt đào một con sông nhỏ ở trong thành, từ nam sang bắc, rồi làm cái buồm gấm để đi chơi thuyền, gọi là Cẩm Phàm hình.
  • Phía nam đô thành có Trường Châu uyển, để làm nơi săn bắn.
  • Lại có Ngư Thành để nuôi cá,
  • Áp Thành để nuôi vịt,
  • Kê Bi để nuôi gà,
  • Tửu Thành để nấu rượu.
  • Lại thường cùng với Tây Thi ra nghỉ mát tại Nam Loan ở Tây động đình, đó là một cái vịnh độ hơn mười dặm, ba mặt đều là núi, chỉ có mặt nam trông như cửa khuyết. Phù Sai cho chỗ ấy là một nơi có thể qua mùa hè được, mới đặt tên là chỗ Tiên.

Tây Thi người nước Việt, sống vào thời Xuân Thu, 506 trước CN, không rõ mất lúc nào, năm nào, ở đâu, là môt trong “tứ đại mỹ nhân” của Tầu.


Khi cô gái giặt áo bên bờ sông, bóng soi trên mặt nước sông trong suốt làm thêm xinh đẹp. Cá nhìn thấy nàng, say mê đến quên cả bơi, dần dần lặn xuống đáy sông. Từ đó, người trong vùng xưng tụng nàng là Tây Thi Trầm Ngư.


Ngô Việt đánh nhau, Việt Câu Tiễn đại bại, bị bắt. Văn Chủng, quân sư của Việt Câu Tiễn, hiến kế mỹ nhân để lung lạc, làm suy yếu nước Ngô.

Câu Tiễn tuyển hai ngàn mỹ nữ dâng cho Phù Sai, trong đó, đẹp nhất là Trịnh Đán và Tây Thi.

Tây Thi gop công lớn trong việc làm cho Ngô Phù Sai ham mê tửu sắc, bỏ bê triều chính, nên Việt Câu Tiễn phục hận, giành lại đất nước.


Sau khi đại thắng, vợ Việt Câu Tiễn muốn mưu hại Tây Thi vì sợ Câu Tiễn sẽ mê say cô ta mà di vào con đường như Phù Sai.

Tây Thi và Phạm Lãi có tư tình với nhau từ trước nên cả hai trốn vào Ngũ Hồ, về sau không ai biết hai người đi đâu. Có người bảo rằng Tây Thi đã tự vẫn.

Tô Đông Pha

bài thơ về Tây Thi:

Thủy quang liễm diễm tình phương hảo

Sơn sắc không mông vũ diệc kỳ

Dục bá Tây Hồ tỉ Tây Tử

Đạm tran nồng mật tổn tươngt nghi



(Nước dập dờn bừng khi nắng dọi,

Nước nhạt nhoà xanh lúc mưa về

Tây Hồ ví tựa Tây Thi

Điểm tranh đậm nhạt vẽ gì cũng xinh


Người ta thường cho rằng Ngô Phù Sai mất nước là vì Tây Thi. Vì vậy, La Ôn minh oan cho Tây Thi bằng mấy câu thơ:

“Nước mất nhà tan bởi cơ trời

Sao cứ Tây Thi đổ tội hoài

Tây Tử nếu làm Ngô mất nước

Thì xưa Việt mất bởi tay ai?


5)- Khúc Ca Tần Hoài


(Ai luyến, ai tiếc Khúc Ca Tần Hoài -

Dương Thiệu Tước - Đêm Tàn Bến Ngự)

Trần Hậu Chủ tên thật là Trần Thúc Bảo (553-604), nhà Hậu Trần thời Nam - Bắc triều bên Tầu.

Ông nổi tiếng là người tài tử phong lưu, ưa đàn hát vui chơi, trong cung lúc nào cũng có hàng ngàn mỹ nữ giai nhân, nổi tiếng nhất là Khổng Quí Tần và Trương Lệ Hoa, hai người rất được nhà vua sủng ái.

Vua cho xây điện Quang Chiếu, toàn bằng gỗ trầm hương để cùng các tài tử giai nhân xướng họa thơ phú, vui ca đàn hát.

Những bài thơ khúc hát soạn ra được chép thành 3 tập là: Nghinh Xuân nhạc, Ngọc Thu và Hậu Đình Hoa (Hoa ở sân sau). Riêng tập Hậu Đình Hoa toàn sưu tập những bài bay bướm, bóng bẩy, dâm đãng. Những cuộc vui nầy làm cho nhà Trần suy vi.

Trần Hậu Chủ cũng soạn một khúc hát Hậu Đình Hoa:

Nguyên tác là:

Lệ vũ phương lâm đối cao các

Trân trang điểm chất bản khuynh thành,

Ánh hộ ngưng kiều sa bất tiến,

Xuất duy hàm thái tiếu tương nghinh.

Yêu cơ kiểm tự hoa hàm lệ,

Ngọc thu lưu quang chiếu Hậu Đình.


Nghĩa:

Bóng rợp hương thơm chốn lâu các,

Nghiêng thành vẻ đẹp với mầu tươi.

Ngoài cửa dịu dàng khoan dạo bước

Trước màn chào đón mỉm môi cười,

Má hồng tựa đóa hoa đầy móc

Cây ngọc sân sau chiếu sáng ngời


Vua Văn Đế nhà Tùy thừa dịp nhà Hậu Trần nầy, sai đem quân sang vây Đại Thành. Giữa lúc ấy, Trần Hậu chủ còn đương say rượu, chưa tỉnh.

Nhà Hậu Trần bị diệt vong, người ta cho rằng sở dĩ nước mất nhà tan cũng do khúc hát Hậu Đình Hoa ấy,


Đỗ Mục, nhân một đêm ghé thuyền trên bến Tần Hoài, gần một quán rượu. Đêm đã khuya mà bấy giờ trong quán, khách còn say sưa ăn uống, bên cạnh những ả buôn son bán phấn hát xướng để mua vui cho khách.

Lắng nghe giọng hát réo rắt bên kia sông, Đỗ Mục làm bài thơ, thường gọi là Tần Hoài Dạ Bạc


Nguyên văn:

Yên lung hàn thủy, nguyệt lung sa,

Dạ bạc Tần hoài cận tửu gia.

Thương nữ bất tri vong quốc hận,

Cách giang do xướng "Hậu Đình Hoa"

Khói bay, nước lạnh, khói trăng pha,

Thuyền đậu sông Tần cạnh Tửu gia.

Hận nước gái buôn không biết rõ,

Cách sông còn hát Hậu Đình Hoa.



Trong Cung Oán Ngâm Khúc của Nguyễn Gia Thiều ở nước ta, cũng có câu:

Vườn Tây Uyển khúc trùng thanh dạ,

Gác Lâm Xuân điệu ngã Đình Hoa.

Thừa ân một giấc canh tà,

Tờ mờ nét ngọc, lặp lòe vẻ son.

Trong bài hát Đêm Tàn Bến Ngự có câu...


Thuyền mơ trong khúc Nam Ai,
Đàn khuya trên sông ngân dài.
Ai luyến ai tiếc khúc ca Tần Hoài!

Khúc ca Tần Hoài chính là khúc Tần Hoài Dạ Bạc nói ở trên.

Sông Hoài, còn gọi là Hoài Hà, Hoài Thủy, lớn thứ ba sau Dương Tử và Hoàng Hà, không chảy ra biển mà đổ nước vào sông Dương Tử. Sông chảy qua Tần Hoài là một quận của Nam Kinh.


6)- Điêu Thuyền

Bọn ta đều chết cả về tay người đàn bà này

(Lý Nho, mưu sĩ Đổng Trác)


Đổng Trác lộng quyền. Vương Doãn muốn trừ bèn lập mưu với Điêu Thuyền là con gái nuôi, hát hay, đàn giỏi, sắc đẹp khiến trăng phải xấu hổ mà dấu mình đi (“bế nguyệt”), Cung Oán Ngâm Khúc gọi là “Hương trời đắm nguyệt say hoa). Điêu Thuyền là một trong “tứ đại mỹ nhân”.

Vương Doãn gả Điêu Thuyền cho Đổng Trác, nhưng xúi Điêu Thuyền ngoại tình với Lã Bố, con nuôi Đổng Trác. Thế rồi hai cha con Đổng Trác - Lữ Bố giết nhau.

Đổng Trác bị giết rồi, dân chúng thoát khỏi ách cai trị tàn ác.

Đổng Trác mê say tiếng đàn, giọng hát, ánh mắt của Điêu Thuyền được mô tả như sau:

Nhất điểm anh đào khải giáng thần.

Lưỡng hàng toái ngọc phún dương xuân.

Đinh hương thiệt thổ hành cương kiếm.

Yêu trảm tà gian loạn quốc thần!


dịch:

Một đóa anh đào chúm chím môi,

Đôi hàng răng ngọc rạng xuân tươi.

Hương đưa đầu lưỡi tàng hơi kiếm:

Chém chết gian thần có lúc thôi!


Bài hát ca ngợi vẻ đẹp Điêu Thuyền:

Phải người cung cũ Chiêu Dương?

Xiêm y mây cuốn vương vương cánh hồng

Nhẹ nhàng mình liễu như bông,

Gót hài uyển chuyển trên lòng bàn taỵ

Động đình lạc lối hoa bay,

Lương châu thoăn thoắt sen cài bước chân

Nhà vàng gió cợt cành xuân,

Trăm hoa nhường vẻ thanh tân một người!


Mao Tôn Cương trong Thánh Thán Ngoại Thư” bàn về Điêu Thuyền như sau:

18 lộ quân chư hầu không giết nổi Đổng Trác, mà một thiếu nữ đào tơ liễu yếu như Điêu Thuyền lại giết nỗi Trác.

Ba anh em Lưu, Quan, Trương hùng liệt không thắng nỗi Lữ Bố, mà chỉ một nàng Điêu Thuyền thắng nỗi.

Ôi, lấy chăn chiếu làm chiến trường,

lấy son phấn làm khôi giáp,

lấy mày ngài làm cung nỏ,

lấy nước mắt nũng nịu làm tên đạn,

lấy lời tình tứ ngọt ngào làm chiến lược mưu cơ.


Xem thế thì cái bản lãnh của nữ tướng quân quả là tuyệt cao cường, đáng sợ thay!"

Chuyện vặt:

- Tề Tuyên Vương:

Vua Tuyên-vương nước Tề trong khi nói chuyện trị nước (chính-trị) với thầy Mạnh-tử, có nói câu “Quả-nhân hữu-tật, quả nhân hiếu sắc (kẻ quả-nhân (tụ xưng) này có tật, kẻ quả-nhân này hiếu sắc). Đó chỉ là một câu nói ví-dụ ở trong việc chính-trị, mà đây dùng lối “đoạn chương thủ nghĩa” (cắt câu lấy nghĩa) cho thêm lý thú khôi hài. Bệnh Tề Tuyên đã nổi lên, tức bệnh ưa sắc đẹp của một đấng quân-vương.


Tài-sắc đã vang-lừng trong nước,

Bướm-ong càng xao-xác ngoài hiên,

Tai nghe nhưng mắt chưa nhìn,

Bệnh Tề Tuyên đã nổi lên đùng đùng.


- Thành Thái

Vua Đồng Khánh mất, ông Bửu Lân lên nối ngôi, hiệu là Thành Thái. Vua thành Thái là người tiến bộ, chọn Tây học, và cũng âm mưu chống Pháp, giành độc lập.

Để chuẩn bị công việc nầy, nhà vua thành lập một đội nữ binh (lập nam binh sợ Tây lưu ý). Ông thường đi vi thiềng tìm người, giả bộ nói là đi tìm người ông yêu. Do đó, trong dân chúng Huế có câu ca dao, có người nói là do nhà vua đặt ra:


Kim Luông có gái mỹ miều

Trẫm thương, trẫm nhớ, trẫm liều, trẫm đi.

Kim Luông, là nói trại tên làng Kim Long, phía tây ngoại thành Huế, làng trù phú, có nhiều nhà quan, cũng là nơi có họ đạo của ông giám mục Gaspar là “tên thực dân mặc áo chùng đen” như cách thường gọi của người Huế.

Dù vậy, việc làm của vua Thành Thái cuối cùng cũng bị bại lộ.

Người ta nói chính là Trương Như Cương, quan to trong triều, biết việc nầy, liền báo cho Tây biết, để lật đổ vua Thành Thái mà đưa con rể của ông là Bửu Đáo, lên làm vua, tức là Khải Định.

Cũng có người nói con gái Nguyễn Thân, cung phi, cũng ở trong đội nữ binh, bị thương khi tập đánh gươm. Nguyễn Thân vào thăm con, biết việc bèn báo cho Tây để lập công. (Theo sử, Nguyễn Thân là đại Việt gian. Theo ông Nguyễn Đức Cung, Nguyễn Thân là nhà ái quốc!)

Tây không đủ lý do truất phế ông về việc chống Tây bèn ngụy tạo lý do bảo rằng ông bị bệnh điên, hoang dâm, không làm vua được.


Tây nói đúng hay dư luận dân chúng Huế đúng?


- Ngô Tam Quế

Ngô Tam Quế làm tướng nhà Minh, được giao nhiệm vụ trấn giữ Sơn Hải Quan là biên giới giữa lãnh thổ nhà Minh và Mãn Thanh. Bấy giờ thế lực nhà Thanh ở Mãn Châu mạnh lắm, muốn cướp Trung Nguyên nhưng không vượt được Sơn Hải Quan.

Bấy giờ ở kinh thành có loạn, Lý Tự Thành đã diệt được nhà Minh, dự tính sẽ lên làm vua, cho người liên minh với Ngô Tam Quế. Tam Quế có một người thiếp yêu ở kinh đô, bị một tướng của Lý Tự Thành cướp mất. Vì vậy, Ngô Tam Quế tức giận, bỏ Sơn Hải Quan, liên hợp cùng quân Thanh kéo về kinh đô để trừng trị kẻ đã cướp người thiếp của y. Nhờ đó, nhà Thanh lên ngôi ở Bắc kinh, cai trị Trung nguyên 300 năm. Người Tầu không ngo ngoe gì được, phải chờ đến cuộc cách mạng Tân Hợi để “nồi da xáo thịt” cho tới khi Tưởng thua chạy ra Đài Loan. (xem phụ lục trích từ “Sử Trung Quốc” của Nguyễn Hiến Lê)


Dĩ nhiên, người được mê phải là người đẹp, còn như nói yêu người xấ, không hẵn là không có, nhưng có thể coi như đó là ngoại lệ, ít khi.

Dã sử còn nhắc chuyện vua nhà Lý gặp Ỷ Lan phu nhân. Bà xấu đẹp không biết nhưng mặt lại rổ. Khi bị bắt tới “trình diện” vua Lý, thấy mặt nàng, vua bảo sẽ ra một câu đối, nếu đối được thì vua tha tội “khi quân” không chịu quì xuống, đứng dựa (ỷ) vào cây “lan” khi kiệu vua đi qua. Câu vua ra là:


Rổ chàng, rổ chịt, rổ chín mười mươi

Cô gái đối là:


Yên nước, yên dân, yên luôn bốn bể.


Mê? Người đàn ông mê gái, mê vợ bé, ít ai mê vợ cả. Vì vậy mới có câu ca dao:

“Gió đưa bụi chuối, sau hè,

Anh theo vợ bé bỏ bè con thơ”

Câu thơ đầu thuộc thể hứng. Người vợ đêm nằm nghe tiếng lá chuối xào xạc sau hè, khó ngủ nên nhớ tới người chồng bạc bẻo.


Thôi! xin bà ngủ đi bà vợ cả. Sở dĩ bà bị chồng phụ là vì bà lớn tuổi rồi, bà già rồi, bà là “gái xề” năm, ba mặt con rồi, bà chỉ còn là:

Chàng ơi phụ thiếp làn chi

Thiếp là cơm nguội để khi đói lòng.


&

Tứ đại mỹ nhân và hầu như gần hết người đẹp nước Tầu, nước ta, nước Nhựt... có mấy ai được “trường thọ”. Người thương cũng nhiều mà người ghét cũng không ít. Thậm chí, nhiều khi cây cỏ cũng ghen.

Trong “Tần Cung Nữ Oán Bái Công Văn” có câu:


“Cặp mày xanh chiếc lá cũng ghen,

Câu khiển hứng đánh chìm giòng nước chảy”


Chiếc lá ghen với đôi mày đẹp, nên khi cung nữ viết vào lá vài câu thơ, thả xuống giòng suối trong cung, nhờ lá trôi ra ngoài cung cấm, để lời tâm sự của cung nữ được ai đó ở ngoài kia nhặt lá lên xem mà biết tới. Nhưng lá vì ghen sắc đẹp với cung nữ, không trôi đi mà chìm xuống đáy nước.

Trong truyện Kiều, Nguyễn Du nói rõ hơn: “Hoa ghen sắc thám, liễu hờn kém xanh”.

Cô Kiều không chết sớm, nhưng cô phải chịu 15 năm lưu lạc.

Xưa thì cho người tài giỏi và người đẹp đều mệnh yểu như nhau:

“Giai nhân tự cổ như danh tướng

Bất hứa nhân gian kiến bạch đầu”.

(Danh tướng cũng như giai nhân, không hứa ở với đời đến khi đầu bạc)

Ngay thế kỷ 20, nhà thơ Jan Leiba cũng đồng ý như như vậy:

“Người đẹp thường hay chết yểu

Thi nhân đầu bạc sớm hơn ai!”

Hàn Mặc Tử, Bích Khê, Quách Thoại qua đời khi chưa quá tuổi ba mươi!


Xưa gọi là “tài mệnh tương đố”. Ngày nay, tôi không tin như vậy. Tin vào số mệnh, chỉ là điều an ủi...

hoànglonghải

Trích một đoạn trong sách Sử Trung Quốc của học giả Nguyễn Hiến Lê:

Ngô Tam Quế được lịnh về cứu kinh đô từ mười ngày trước, vẫn chùng chình, tiến binh rất chậm, có lẽ vì còn tính xem có nên nhận đề nghị chia chác sau đó của Lý Tự Thành không. Khi Tư Tôn (tức Sùng Trinh Hoàng đế) tuẫn quốc, thì Quế mới tiến được có nửa đường tới Bắc Kinh. Hay tin, hắn quay trở về liền để chờ xem tình thế ra sao.

Lý Tự Thành đã thành công một cách dễ dàng...Duy có Ngô Tam Quế là có thể gây rối cho ông. Ông nhờ cha của Quế (lúc đó đã theo ông) làm trung gian để điều đình với Quế. Nhưng Quế vẫn không quyết định gì cả, có lẽ muốn đợi Lý Tự Thành trả cho mình một ái thiếp bị một tướng của Tự Thành bắt. Đồng thời Quế cũng thương thuyết với quân Thanh, nhờ quân Thanh giúp khi cần. Tự Thành hay tin đó tặng Quế 40.000 lạng (bạc?), Quế vẫn làm thinh.

Bực mình, Tự Thành phái hai tướng đem 20.000 quân tấn công Quế. Nhưng đáng lẽ phải cấp tốc đánh Tam Quế trước khi quân Thanh can thiệp, thì họ lại kéo dài ra. Tự Thành phải đích thân đem 200.000 quân đánh Quế ở gần Sơn Hải Quan, khi vây Quế ba mặt rồi, quân Quế sắp bị tiêu diệt thì quân Thanh tới cứu Quế. Tự Thành thua, rút lui, đề nghị chia giang sơn với Quế; Quế không chịu, Tự Thành giết cha Quế rồi vội vàng về Bắc Kinh (vì quân địch theo bén gót) vơ vét vàng bạc, châu báu chất lên xe, đưa về phía Tây, đốt cung điện rồi cùng với quân đội rút lui...

Quế hy vọng đuổi được Tự Thành rồi, nhường cho nhà Thanh một số quyền lợi nào đó thì họ sẽ lui về Mãn Châu. Không dè viên phụ chính (Đa Nhĩ Cổn), chú vua Thanh bảo chưa lập được trật tự nên không về, lại sai Quế đem quân Thanh đuổi theo Lý Tự Thành tới Thiểm Tây. Trong khi đó, vua Thanh mới 7 tuổi được chú (tức viên phụ chính) đưa vào Bắc Kinh, đặt lên ngai vàng.

Quế hay tin như người mất hồn, suốt ngày đóng cửa không tiếp ai, rất rầu rĩ. Hắn tiếc vì mất ái thiếp, lại mất ngôi vua hay chức Tể tướng. Hắn ân hận vì để cho cha bị giết và mang tội phản quốc..


Khóc Vũ Hân

(Vũ Hân, quê Quảng Nam, bị tật bẩm sinh, là một nhà thơ, - tác giả thi phẩm “Diễm Trang”, nhà giáo nổi tiếng ở trường Bồ Đề Huế. Sau 1975, ông bị buộc phải thôi dạy học, sống lây lất ở Saigon, vợ bỏ. Ông chết trong cảnh nghèo khó. Bài thơ nầy Hoàng Vũ khóc Vũ Hân khi nghe tin Vũ Hân qua đời).


Ức Vũ quân hề lệ mãn khâm

Trường Sơn Quảng địa nhất tinh trầm

Yên hoa phong bút, hồn như tại

Hà huống tao nhân ảo tỵ trần


bản nôm:

Thấm bâu lệ nhớ bao lần

Quê hương bỗng xót một vì sao rơi

Bút hoa gởi lại với đời

Đành sao anh vội về nơi chia đường.


Nhất phiến tài tình vạn cổ thương

Nhàn văn độc khứ thệ hà phương

Ô hô! Thế sự mai trường mộng

Hốt kiến trần khôi sở đoạn trường


bản nôm:

Tài hoa một kiếp thân thương

Cánh mây biền biệt cuối đường phiêu du

Mộng trường chôn chặt nghìn thu

Màu tro xám lạnh bùi ngùi tâm can

Hoàng Vũ


Truyền Thuyết:

Tương truyền Chử Đồng Tử sống cùng cha là Chử Cù Vân tại Chử Xá huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên. Chẳng may nhà cháy, mất hết của cải, hai cha con chỉ còn lại một chiếc khố phải thay nhau mặc. Lúc người cha lâm chung, ông gọi con lại bảo rằng hãy giữ chiếc khố lại cho bản thân. Thương cha nên Chử Đồng Tử liệm khố theo cha, mình thì chịu cảnh trần truồng khổ sở, kiếm sống bằng cách ban đêm câu cá, ban ngày dầm nửa người dưới nước, đến gần thuyền bán cá hoặc xin ăn.

Tiên Dung

Thời ấy vua Hùng Vương thứ ba có cô con gái tên là Tiên Dung đến tuổi cập kê mà vẫn chỉ thích ngao du sơn thủy, không chịu lấy chồng. Một hôm thuyền rồng của công chúa đến thăm vùng đó. Nghe tiếng chuông trống, đàn sáo lại thấy nghi trượng, người hầu tấp nập, Chử Đồng Tử hoảng sợ vội vùi mình vào cát lẩn tránh. Thuyền ghé vào bờ, Tiên Dung dạo chơi rồi sai người quây màn ở bụi lau để tắm, ngờ đâu đúng ngay chỗ của Chử Đồng Tử. Nước xối dần để lộ thân hình Chử Đồng Tử dưới cát. Tiên Dung kinh ngạc bèn hỏi han sự tình, nghĩ ngợi rồi xin được cùng nên duyên vợ chồng.

Vua Hùng nghe chuyện thì giận dữ vô cùng, không cho Tiên Dung về cung. Nàng biết ý nên cùng chồng mở chợ Hà Thám, đổi chác với dân gian. Buôn bán tấp nập, phồn thịnh, ai cũng kính thờ Tiên Dung - Chử Đồng Tử làm chúa. Một hôm có người bày cho cách ra ngi buôn bán nhiều lãi, Tiên Dung khuyên chồng nghe theo. Chử Đồng Tử bèn theo khách buôn đi khắp ngược xuôi. Một hôm qua ngọn núi giữa biển tên Quỳnh Tiên. Chử Đồng Tử trèo lên am trên núi và gặp một đạo sĩ tên Phật Quang. Chử Đồng Tử bèn giao tiền cho khách buôn đi mua hàng, còn mình thì ở lại học phép thuật. Sau thuyền quay lại đón, Phật Quang tặng Chử Đồng Tử một cây gậy và một chiếc nón lá, dụ rằng đây là vật thần thông.

Về nhà, Chử Đồng Tử truyền mọi sự lại cho vợ. Tiên Dung giác ngộ bèn bỏ việc buôn bán, cùng chồng chu du tìm thầy học đạo. Một hôm tối trời, đã mệt mà không có hàng quán ven đường, hai vợ chồng dừng lại cắm gậy úp nón lên trên cùng nghỉ. Bỗng nửa đêm, chỗ đó nổi dậy thành quách, cung vàng điện ngọc sung túc, người hầu lính tráng la liệt. Sáng hôm sau, dân chúng quanh vùng kinh ngạc bèn dân hương hoa quả ngọt đến xin làm bầy tôi. Từ đấy chỗ đó phồn thịnh, sung túc như một nước riêng.

Nghe tin, vua Hùng cho là có ý tạo phản, vội xuất binh đi đánh. Quân nhà vua đến, mọi người xin ra chống cự nhưng Tiên Dung chỉ cười và từ chối không kháng cự cha mình. Trời tối, quân nhà vua đóng ở bãi Tự Nhiên cách đó một con sông. Đến nửa đêm bỗng nhiên bão to gió lớn nổi lên, thành trì, cung điện và cả bầy tôi của Tiên Dung - Chử Đồng Tử phút chốc bay lên trời. Chỗ nền đất cũ bỗng sụp xuống thành một cái đầm rất lớn.

Nhân dân cho đó là điều linh dị bèn lập miếu thờ, bốn mùa cúng tế, và gọi đầm đó là đầm Nhất Dạ (Đầm Một Đêm), bãi cát đó là Bãi Tự Nhiên hoặc Bãi Màn Trù và chợ đó là chợ Hà Thị.



  
  


Tuesday, January 10, 2012

VŨ HOÀNG CHƯƠNG * Phương Xa


Nhổ neo rồi, thuyền ơi xin mặc sóng
Xô về Đông hay giạt tới phương Đoài
Xa mặt đất giữa vô cùng cao rộng
Lòng cô đơn cay đắng họa dần vơi
Lũ chúng ta lạc loài dăm bẩy đứa
Bị quê hương ruồng bỏ giống nòi khinh
Bể vô tận sá gì phương hướng nữa
Thuyền ơi thuyền theo gió hãy lênh đênh
Lũ chúng ta đầu thai lầm thế kỷ
Một đời người u uất nỗi chơ vơ
Đời kiêu bạc không dung hồn giản dị
Thuyền ơi thuyền xin ghé bên hoang sơ
Men đã ngấm bọn ta chờ nắng tắt
Treo buồm cao cùng cao tiếng hò khoan
Gió đã nổi nhịp trăng chiều hiu hắt
Thuyền ơi thuyền theo gió hãy cho ngoan
Vũ Hoàng Chương

LUÂN HOÁN * Nghe Mưa



ngồi chăm chú đếm hạt mưa
một, hai, ba, bốn ... lưa thưa xuống đường

mười ba, mười bảy ... dễ thương
hai mươi, hăm mốt ... buồn buồn vẩn vơ

hăm lăm .. đã rối như tơ
thôi không đếm nữa, làm thơ để dành

làm thơ từ thuở chòng chành
hai con mắt nhúng vào vành môi ai

làm thơ từ thuở chân dài
thòng ra vấp cái trâm cài tóc thơm

làm thơ từ thuở cà lăm
câu chào, tiếng hỏi cong cong hương tình

làm thơ từ thuở rùng mình
nửa đêm ẩm ướt thình lình nhớ ai

để dành thơ từ sớm mai
để dành thơ từ đêm dài hôm qua

chờ em đến, để làm quà
em chưa chịu đến thế là trời mưa

một, hai, ba, bốn ... lưa thưa
mười ba, mười bảy ... cũng vừa nhớ nhung

nhớ em cái bụng chùng bùng
cái tay đổ quạu lừng khừng xé thơ

trời mưa buồn thế, không ngờ

Luân Hoán

Mh.Hoài Linh Phương * Tùy bút




Ừ, hình như mai xuân về người ạ!
Mai xuân về rôi tình vẫn chia xa
Người vẫn đó, nhưng ngàn năm xa khuất
Vẫn những ngậm ngùi, đau đớn riêng ta...

( Hình Như Mùa Xuân – MHHLP)


Chuyến đi xa bắt đầu hình thành trong tôi từ một buổi tối...
Về ngang hiệu café Starbucks ngào ngạt thơm nồng được gói thành quà tặng cuối năm, tôi ngẩn ngơ buồn. Tiếp tục lang thang cho hết một vòng IDS Center hòa trong giòng người hối hả, với đèn hoa rực rỡ, đón chờ năm mới, tôi đã tự hỏi sao tôi không về bên cạnh những thân yêu cho lòng ấm áp phút tàn năm.
Với Nghi – em trai tôi, cách xa gần ba ngàn dặm, nhưng tình chị em vẫn đầy ắp dâng tràn như ngày còn thơ ấu. Và với Alain, Louis, những đứa cháu, mắt sáng, ngời trong, da thơm và mát như thạch, ngon như quả táo đầu mùa, líu lo như chim, nhưng cũng bi bô, ngọng nghịu trong từng câu nói đầu đời đã là những thôi thúc dễ thương, thầm lặng. Phải rồi, sao tôi không về Little Saigon – một quê hương thu nhỏ – cho tôi vơi đi nỗi nhớ mưa nắng Saigon, cho tôi nhìn lại chính tôi.


Tiếng của người tiếp viên phi hành, thời tiết Los Angeles rất ấm : 60 độ khi chuyến bay chuẩn bị đáp xuống phi đạo, cho tôi nhẹ nhõm người, mỉm cười một mình, vì ít ra là cũng thoát được một nơi khởi hành chỉ ở 12 độ âm.
Áo coat màu bồ quân, dày nâu, và khăn quàng màu gõ quý, cho tôi không giống ai, lạc loài ở phi trường, như người tới từ Alaska. Cali mùa đông vẫn chỉ áo T. shirt, quần jeans, đôi khi thấp thoáng một vài bộ hành với jacket nhẹ khi đêm đã vào khuya hay trời còn sương sớm.

Nghi ôm chặt tôi. Hai chị em phải đi ăn tối ở một nơi còn mở cửa muộn. Khách hàng thưa thớt, tất bật cho một năm mới gần kề. Tôi lơ đãng nhai những cọng mì dòn nhưng nhão nhừ trong cổ họng. Miếng sandwich cho dinner lạnh ngắt trên máy bay vẫn còn làm no ứ.
Hơn mười năm xứ người, phải nhập gia tùy tục, mà sao tôi vẫn chưa “ quen “ được những món ăn Mỹ. Cứ nhạt nhạt, ngọt ngọt, không biết làm sao. Trong khi bánh mì Pháp lúc nào cũng nóng dòn, thì sandwich Mỹ, ngàn năm giữ trong ngăn lạnh. Cho nên, chẳng trách những nhà hàng bán món ăn Pháp thật đắt hàng khi khách Mỹ biết thưởng thức gout ăn uống lịch lãm của dân Parisien.
Đêm bên ngoài nhè nhẹ bình yên. West Garden Inn ở Garden Grove im lặng, ngủ say khi cô bé con receptionist ở quầy lơ đãng lim dim trên một tờ tạp chí. Xe khách xa trong parking đầy kín. Cách kiến trúc của hotel bình dị với những dãy nhà ngang, cho tôi liên tưởng đến những tháng năm nội trú ở quê nhà từ một thời tuổi nhỏ. Ngôi trường Saint Esprit với các Soeur Dòng Mến Thánh Giá. Dãy nhà nguyện, với hoa sứ trắng rụng đầy sân. Hoa ngọc lan ngát nồng hương mỗi tối. Chúng tôi – đám nữ sinh nội trú, ăn ngủ, học hành, đọc kinh theo một thời khóa biểu ấn định, sống kỷ luật như những thanh niên trong trại lính. Chỉ được đón về nhà với Ba Mẹ khi Tết đến hoặc mỗi dịp hè sang. Cuộc sống đều đều một nhịp trong thời niên thiếu, nhưng chẳng biết sao, tôi bằng lòng chấp nhận, không buồn phiền, than oán, dù nhà tôi ở đường Trần Hưng Đạo, chỉ cách nơi nội trú ba blocks mà thôi. Có lẽ vì vâng lời khuyên nhủ của Mẹ tôi. Mẹ muốn gửi tôi vào sống với các soeur, để được rèn luyện, dạy dỗ cho nên người.
Và có thể cũng từ trong nỗi tĩnh lặng đó, tôi mới tìm đến thơ văn như một an ủi cho riêng mình. Cô bé con lên mười với áo dài xanh đồng phục, quần còn ống thấp, ống cao đã tập đứng vững chải một mình giữa bao người xa lạ, khi những đứa trẻ con cùng lứa tuổi vẫn êm đềm bên gối Mẹ Cha. Nhưng nhìn lại, phải chân thành cám ơn Ba Mẹ tôi, nhờ vậy về sau trong tuổi trưởng thành, tôi mới có thể đương đầu với bao thăng trầm, dâu bể.

Tôi nhớ những ngày gần Tết, học trò lần lượt được đón về nhà. Khu nội trú vắng im, tôi thơ thẩn ở vườn sau nhìn các chị đang tu để trở thành soeur, tưới cây bằng những gàu quay ở giếng. Lần đâu tiên biết điều ấy, tôi vô cùng thích thú, vì ngồ ngộ làm sao. Bây giờ nghĩ lại, sao các soeur, không làm giếng máy cho đỡ nhọc công. Ngay giữa thành phố mà cứ như ở mãi một miền quê xa tít nào. Hay là phải như thế, vì các chị đang trong thời kỳ “huấn nhục “ trước khi khấn trọn đời...
Nếp sống nội trú quen thuộc đến độ, có lần tôi có ý định đi tu vào năm 12 tuổi. Tôi thương hết mọi khuôn mặt quanh mình. Từ Soeur Marie Christiane dạy Pháp Văn, cũng là giáo sư hướng dẫn lớp, với nét chữ rắn rỏi, dáng người dong dỏng cao, khuôn mặt sáng, tưởng chừng nghiêm khắc, nhưng tình cảm đầy ắp, tràn bờ. Soeur rất thương tôi, vì môn tiếng Pháp, tôi được ghi nhận là xuất sắc, được xướng danh nhiều lần, sau buổi chào cờ hàng tuần vào sáng thứ hai. Chỉ vì Dictée lúc nào tôi cũng viết không lỗi. Récitation về những bài thơ ngụ ngôn của La Fontaine, tôi thuộc như máy. Cũng như khi làm Rédaction, tôi cũng phóng bút văng mạng, nhưng bù lại, rất chính xác Grammaire. Chẳng giỏi giang gì, nhưng có lẽ giữa đám học trò mù, tôi anh chột nên được làm vua.
Soeur Marie Christiane là môt hình ảnh mẫu mực mà tôi vươn tới. Nên thương soeur, tôi cũng muốn đi tu là vậy. Giữa thời buổi đó mà Soeur lái xe trường nhanh như gió thật cừ khôi. Đưa các soeur trong trường đi thăm các tu viện và cô nhi viện khác ở các vùng Cái Sắn, Củ Chi, Vũng Tàu, Bà Rịa... Nét chữ Soeur viết trong sổ liên lạc gia đình hay học bạ đẹp hết chỗ chê. Mạnh bạo, và sắc nét như đàn ông. Tôi mơ mình được như Soeur. Nên chú Hy tôi ngạc nhiên khi khám phá chữ viết tôi với những nét đá lên, sổ xuống y hệt con trai năm tôi 14 tuổi là vì thế.
Đến Soeur Rosalina, rất trẻ trung, nhưng đôi mắt thẳm sâu chìm trong khuôn mặt chịu đựng, dạy L’Anglais Vivant. Bài học nhập môn “ This is Jack. Jack is a boy... “, cho tôi nhớ mãi một thời... những cây bàng xoay tròn trong khuôn viên trường cũ, những ngày sắp Tết trời nổi gió, tôi nôn nao chờ Ba tôi đến đón về sum họp với gia đình trong tiếng pháo giao thừa, dưa hấu đỏ, bánh chưng xanh

Con sông tuổi thơ đã trôi xa, không bao giờ trở lại, nhưng có phải trong ký ức dễ thương vẫn lưu giữ trong ta yêu dấu muôn đời.
Nước nóng từ bồn tắm làm tôi tỉnh táo khi giũ hết bụi đường với gần bốn tiếng đồng hồ bay và hai tiếng delayed vì chờ máy bay Orlando về trong cơn mưa bão.
Tôi bỗng nhớ Vinh. Lá thư của Vinh đã khua đông trong tôi bao ngày tháng cũ…... Mới đó mà mười hai năm. Saigon quấn quít yêu thương và chứa chan kỷ niệm. Những ngày giáp Tết, chân bước bên người qua phố đông vui. Nguyễn Huệ chợ hoa rực rỡ một góc trời hàm tiếu.Đâu biết trong tiếng cười là tiếng khóc chực chờ sang.
Phải không anh, có hạnh phúc nào không chen lẫn đắng cay khi chúng ta đã lìa nhau như chim xa rừng, như thuyền bỏ bến. Nước mắt xuân thì lại chảy xuống cho cuộc tình tan.
Em đã lặng lẽ bước đi, không ngoái đầu nhìn lại. Cho nguôi quên những cay đắng, ngậm ngùi. Đã hết. Đã thôi. Từ ngày tháng ấy... Ta không thể nào còn nữa riêng nhau.
Bây giờ, ta biết tìm nhau ở đâu, khi mùa xuân chỉ môt lần đi và đến. Ngày hôm nay không thể nào còn nữa chuyện hôm qua. Em đã sống được đời em. Bằng lòng. An phận. Đã mười hai năm, như nước chảy qua cầu...
Không đinh, nhưng tôi đã bước về phía nhà sách Tự Lực. Chỉ cách hotel tôi ở một block đường thôi. Quán sách nhỏ nhưng đầm ấm, tình thân. Người bán ân cần, chu đáo. Năm nào về Little Saigon, tôi cũng ghé đây để tìm sách mới. Tôi ôm một mớ sách của Nguyễn Thụy Long, được discount phần tiền lẻ. Tôi hỏi đùa. Ông không tặng cho khách hàng thân tín cái mũ mùa đông hay sao, cái mũ mùa hè mang tên Tự Lực tôi vẫn còn giữ đó, để đi Picnic, câu cá và bơi thuyền khi Minneapolis vào hạ. Người quản lý cười, cám ơn chị về ý kiến hay, nhưng chúng tôi chưa có. Tôi quên hẳn một điều Cali làm gì có mùa đông. Nếu tôi không muốn ôm thêm một cái mũ mùa hè về xứ tuyết, thì cũng đành thôi.
Trên phố Brookurst, vẫn dập dìu xe cộ ngược xuôi. Người ta yêu nhau như đã yêu nhau. Tôi nhớ lời Nghi dặn, bánh xèo Vân bên này, và Nem nướng Ninh Hòa Bonard bên kia. Thưởng thức để nhớ quê nhà. Một quận lỵ nghèo sát biển, miền quê Ngoại, ở đó những mẻ cá tươi xanh từ làng chài Dốc Lết, những hàng phi lao xỏa tóc rì rào trên đồi cát trắng, đời sống an bình dân dã, những dấu chân trần trên bờ cát ướt để tìm kiếm những rỗ ghẹ, những con cua đầy gạch đỏ au, cho du khách hương vị đậm đà, hít thở khí trời trong lành mênh mông biển cả.
Ngưòi sành ăn vẫn nhắc nhở về nem Thủ Đức, nem Lai Dung... Nhưng có lẽ họ chưa được ngược về miền Trung để thưởng thức nem Ninh Hòa, nổi tiếng về dòn, thơm, với mùi tiêu, mùi tỏi sống, đươc gói bằng lá vông bên trong, lá chuối bao ngoài, tiếng vang ra xa ba miền đất nước.

Những Tết ấu thơ ở miền quê Ngoại, chỉ cần có hai đồng lì xì mới trong tay, là tôi có thể chễm chệ làm thực khách ngồi chờ ở hàng nem nướng đợi đến phiên mình. Cuốn nem tròn với chả ram, nem nướng, xà lách, rau thơm, dưa leo, chuối chát, khế... đươc gói thoăn thoắt từ tay bác Bốn Thành, người đàn bà bán buôn dễ thương nhất xóm, luôn làm dich vị được tiết từ kẻ răng khi đươc dùng với một loại nước chấm đặc biệt quyện lại, xay nhuyễn từ gan heo, thịt bầm và tôm tươi giã nhỏ. Bác Bốn lại thường cho thêm tôi một vài khoanh nem, và chả ram nhâm nhi cho quên trời, quên đất. Sau khi no nê, tôi mới về nhà, cùng bạn bè bé con vui chơi bầu cua cá cọp.
Nhưng không phải mùa xuân nào cũng đứng gió. Tuổỉ nhỏ mật ngọt qua đi, để nhường lại những cơn gió hoang vu thổi buốt môt thời thiếu nữ lao đao.
Những đêm nghe tiếng thở dài cô quạnh, mùa xuân không áo mới, không lụa là, phấn son.
Tưởng như mình thành cô phụ, khi người xưa ngựa trâu trong kiếp lưu đày. Tôi nhìn bóng tôi chênh vênh trên bờ tường trắng. Gió ở nơi nào sao thổi mãi không thôi. Hết một mùa xuân. Tàn một mùa hạ. Qua tới thu buồn. Và heo hút mùa đông. Đêm vẫn hư không và ngày đầy bóng tối.
Ở đó là những giấc mơ âm thầm, vụn vỡ, một tương lai mịt mù trong nhức buốt, hư hao. Ta có còn nhau không, hay chỉ là kỷ niệm. Đường anh đi với gió núi mây ngàn, phiêu bạt giữa lầm than. Em ở lại đây, nơi thành phố cũ, nhớ thương anh cũng chỉ biết ngậm ngùi. Thôi cũng đành thôi Biết đến bao giờ, hỏi mình định mệnh có còn cho ta gặp lại nhau không. Hỡi anh yêu dấu!

Phan từ Los Angeles ghé thăm. Anh hỏi Thụy ngủ được không, hay lạ chiếu, lạ giường? Vì là những ngày lễ Tết, nên khách xa đầy kín hotel, tiếng sầm sập đi ngoài hành lang chen lẫn với tiếng cười nói, cho tôi không chợp mắt được.
Trở dậy, thay quần áo, thành phố trở mình còn tẩm đẩm hơi sương. Băng qua đường. Lee’s Sandwiches ở góc phố bên kia. Phan mua cho tôi một ít bánh Pâté chaud. Hương vị café thơm đắng, ngất ngây cổ họng. Café của Lee’s Sandwiches tuyệt vời. Ngày nào tôi cũng phải đến đây mang café về phòng, “ đầu cơ tích trữ “ hai, ba ly một lúc. Phan kêu lên: Thôi, em nghiện café rồi Thụy ơi! Tôi cười. Tại anh chân chính quá. Luôn luôn ăn uống điều độ. Không café, thuốc lá, nên em bỗng thành kẻhoang đàng.

Phan đến với tôi thật mộc mạc, nhưng chân tình, yêu thương, chiều chuộng. Nghe tin tôi đi Cali, từ Maryland, anh lập tức lấy vé bay theo. Và ngỏ lời cầu hôn. Tôi không trả lời anh, vì thời gian quen biết ngắn quá, để hiểu về nhau. Tôi cảm động ở tình anh. Nhưng điều đó đã đủ chưa cho một đời sống vợ chồng mai sau.

Tôi nói, đừng yêu Thụy, anh sẽ khổ. Anh chấp nhận tất cả, vì anh thương em. Không có điều gì để lầm lẫn. Anh nhìn em rất đúng. Thụy, có nghe anh nói không.
Thím Hy ở Austin, Texas lập lại với tôi một lần nữa, con gái khi yêu hãy chọn kẻ mình yêu, nhưng bước vào một đời chồng vợ hãy lấy người yêu mình. Còn mẹ tôi, con có thể trẻ hoài, để đi về thênh thang một bóng hay không. Riêng chú Thái ở Sacramento, ai rôì cũng phải qua chuyện duyên nợ một lần. Cháu cũng không trốn tránh đươc đâu. Mọi người đẩy tôi đến, bắt tôi suy nghĩ. Nhức căng đầu óc, nhiều lần, tôi nói với Phan, nếu anh cứ thúc hối, Thụy sẽ biến mất, cho anh sống một mình cho vui.
Phan nhất định không buông tôi, và không sợ ai cười. Thời khóa biểu của tôi hàng ngày, Phan biết rõ cả giờ giấc. Đêm nào cũng nói chuyện với nhau ít nhất ba tiếng đồng hồ. Ngày trang email dày đặc thư Phan. Bi “ địch “ tấn công, tôi không nao núng. Kết quả, “ địch “ lui quân, để chuẩn bi tiến tới.
Phan xuống nước. Thụy không về Maryland, là anh bán nhà dọn qua Minneapolis. Tôi trêu chọc: Anh điên khùng. Xứ tuyết này người ta chỉ có dọn đi, ai thèm đến đây, khi đời sống họ đã ổn định như anh. Nhưng anh sẽ có Thụy. Lập luân “ địch quân “ vững chắc như vậy, làm tôi lung lay, muốn giơ tay đầu hàng.
Điều gì sẽ xảy ra, tôi không biết. Chỉ biết, Phan làm tôi bận rộn hơn nhưng vẫn thấy mình cô độc khôn nguôi.
Tiếng xe Van ngừng lại dưới sân, cho tôi hé cửa ra nhìn. Ái, Tâm và hai con từ Pomona, bắt tay làm loa, chị Thụy ơi, chúc mừng năm mới.
Và chúng tôi đón Tết tại Sea Food Co. Quây quần bên nhau, các em tôi bên này, và Tâm, Ái bên kia. Ái của những ngày đầu tiên găp tai trường Willow, mùa xuân hoa hồng rực nồng trên đường Sunkist. Ái nhỏ nhắn, hao gầy như cánh vạc bay. Gặp Ái lần đầu tôi có cảm tình ngay. Có phải tôi đã nhìn thấy lại tôi, ngày tôi xa Quân, cũng từng ấy tuổi. Mơ mộng đầy tay và yêu dấu ngập hồn. Có biết đâu rằng bão nổi sau lưng….
Ái bằng lòng lấy chồng sau một cuộc tình tan. Mới biết tình đầu mãi mãi khói sương, mù xa, ảo ảnh. Nhưng Ái đã tìm thấy hạnh phúc. Hay có phải hạnh phúc chỉ là những điều gần gũi nhất, có sẵn trong tay mà ta không hề hay biết.
Một thoáng mà đã hơn mười năm. Mười năm của bao lần cây thay lá, của bao mùa gió buốt thổi qua, của xuân nồng mấy độ.
Tôi nghĩ đến Phan đang trên chuyến bay trở về Washington DC. Không biết đó có phải là đinh mệnh của tôi, hay vẫn mãi rồi cũng chỉ là rong chơi, dong ruổi.
Có cần không khi Phan tình nguyện làm người khêu ngọn lửa, cho tro than tôi cháy lại, thắp sáng nồng nàn. Có thật không, ở phía nào vẫn còn những tấm lòng gửi gấm cho nhau. Giá buốt rồi sẽ qua. Đêm nồng rồi sẽ tới.
Mai mùa xuân rồi Phan, Thụy biết, và xin tạ tình anh.


Thursday, January 5, 2012

phan bá thụy dương * BÀI TÚY CA VIẾT TRÊN CỐ HƯƠNG


1-

ghé quán bên đường cạn một ly
cơ hồ tiền kiếp gợi sân si
rót thêm chai nữa –
thêm chai nữa
thì chuyện tới lui có xá gì

tôi chỉ là người khách ly hương
dừng chân nghĩ lại quán ven đường
tìm nỗi hoài tình hương thắm cũ
cùng bạn xưa nhắp chén hồ trường
rồi mai rồi mốt về bên ấy
còn một chút gì để vấn vương

2-

ngửa mặt cười khan cùng nắng quái
men nồng như phảng phất đâu đây
người xưa tích cũ trong thi sử
ai kẻ luận đàm việc tỉnh say
thôi tôi cời chút than sưởi gió
vói tay bắt bóng trả cho mây

rằng thêm ly nữa - thêm ly nữa
hồ trường – hồ trường, tôi tỉnh hay mê
cố hương tôi, tôi nhớ tôi về
ngờ đâu giờ đã bốn bề tịch liêu
hoàng hôn thắp cánh sương chiều
mà sao cảnh vật tiêu điều lá hoa
thôi - tôi cạn chén quan hà.

3-

tôi chỉ là người khách viễn phương
những đóa ô môi rơi rớt bên đường
sao u uẩn ngậm ngùi như cỏ úa.
khúc hoài ca lạc điệu giữa cố hương

uống thêm chai nữa –
thêm chai nữa
cứ dâng rượu tiếp để môi mềm
ghế thấp ghế cao -
quẩn quanh quanh quẩn
đêm –đêm đã về chưa ? trăng đã lên ?


PHAN BÁ THỤY DƯƠNG

PHAN * Thằng Nhóc

Đào Hải Triều


Tôi đi lấy thơ, thấy thằng nhóc hàng xóm đang rình con chim trên khung cửa sổ nhà tôi, tôi nói với nhóc:
- "Đó là loài chim Mockingbird."
Nó trả lời:
- "Tôi cũng nghĩ thế".

Nói bằng tiếng Việt mới tức chứ! Thà nó nói tiếng Anh còn đỡ bực mình. Không biết sao thằng nhóc Mỹ xon xỏn "You and Me" hay "You and I" với mình thì nghe lọt lỗ tai. Nhưng thằng nhóc Việt Nam mà không biết thưa "chú, bác...", "Cháu cũng nghĩ thế" thì nghe không vô. Tôi giận cá chém thớt, vô kể với má sắp nhỏ, rồi đi đến kết luận kỳ cục là: "Ngày mình về đây ở không có Việt Nam thế mà yên. Bây giờ Việt Nam cũng đã tràn đến đây!" Dĩ nhiên là tôi bị sạt một trận về tội kỳ thị, phân biệt...

Khi người có tiếng hòa nhã với xóm làng, chàng ràng với riêng tôi đã đi luyện phim bộ sau bữa trưa cuối tuần, tôi ngồi đọc báo ngoài sofa, nghe tiếng cửa sổ vỡ. Tôi vén màn cửa sổ lên là thấy liền lớp kính đã rạn nứt. Chưa kịp mở cửa xem ai là thủ phạm thì tiếng chuông đã báo có người viếng thăm nhà. Tôi mở cửa ra, chạm trán với thằng nhóc mà lòng tôi chưa hết tức bực nó. Nó thành tâm hối lỗi trên gương mặt đỏ nắng với mồ hôi nhễ nhại... vẫn dùng loại tiếng Việt lớ ngớ. Nó nói:
- "Tôi vừa làm bể cửa sổ nhà ông. Tôi đến báo cho ông biết, tôi sẽ nói người đến thay cái mới cho ông. Tôi xin lỗi."

Lời thành tâm của nó không thuyết phục bằng cái ná tự chế trên tay, cái ná gợi nhớ biết bao điều như sóng dội vào bờ cổ tích. Tôi chẳng trả lời là có chấp nhận yêu cầu của nó hay không, tôi chỉ nói: "Ừ." Một tiếng ngắn nhất đã làm thằng nhóc thở phào nhẹ nhõm, nó leo lẻo ngay:
- "Ông phải hứa với tôi là không được nói với ba tôi..."

Thiệt muốn tát cho nó một cái; sút cho nó một đá hết sức, không phải vì cái cửa mà bực bội với lời ăn tiếng nói kỳ cục. Nhưng luật pháp vô hình mà trói chặt tay chân. Tôi đóng cửa để kềm chế mình - thì nó bấm chuông lần nữa để nhắc lại yêu cầu!
Bực bội trong người quá sức, tôi thay cái quần short rồi lái xe ra quán cà phê. Tính ngồi nhâm nhi ly cà phê, đọc báo. Nhưng đọc không vô với bao nhiêu là ký ức như sóng dội về bờ xưa bến cũ... lúc tôi mười mấy tuổi như thằng nhóc, tiếng Việt của tôi hùng hậu đến có thể chối bay chối biến một tội bị bắt quả tang; bao nhiêu người làm chứng cho một tội khác - thế mà tôi thành công trọn vẹn sau quyết định đổ tội cho thằng bạn.

Ba hôm sau, nó lại bấm chuông nhà tôi để nói chuyện phải trái:
- "Tôi đến báo với ông là tôi không có tiền. Nếu ông cần sửa mới cái cửa sổ thì ông có thể nói với ba tôi."
- "Mày không sợ ba mày đập mày hả?" Tôi nói.
- "Ba tôi sẽ đánh chứ không đập. Tôi mong ba tôi không đánh nhiều..."
- "Mày không sợ bị đánh?"
- "Sợ lắm!"
- "Vậy,..."
- "Thôi được. Tao không nói với ba mày đâu. Cái cửa cũng chỉ mới nứt kính chứ chưa vỡ. Chừng nào mày có tiền thì kêu thợ ngoài Home Depot vô đây, thay cho tao. OK."
- "Tôi cảm ơn ông rất nhiều!"

Nhìn cái tướng nó lểu thểu ra về, lỏng khỏng tay chân dư thừa của tuổi mới lớn, giọng bể tiếng như vịt cồ của nó còn đọng lại trong tôi rất lâu. Từ đó về sau, cứ thấy mặt là nó khất tôi rồi cảm ơn tôi rộng lượng. Ngày tháng như vũng trâu mùa hạn, nước khô dần, khô dần... đến hôm nó sang báo với tôi là nó đi làm part time ở tiệm một đồng. Cái check đầu tiên nó sẽ trả tiền thợ thay kính cửa sổ cho tôi. Nó đâu có biết chuyện vợ chồng tôi có thể đi đến ly dị vì tôi nhất định không thay kính khung cửa nứt mà không giải thích lý do.

Tôi có thấy ba mẹ nó tất bật, hối hả, chở nó đi làm vài tiếng sau buổi học, nhưng không phải ngày nào cũng thế. Đến hôm nó báo với tôi là cái check đầu tiên của nó được chín mươi sáu đồng, nhưng Home Depot đến estimate việc thay cái cửa đến hai trăm tám mươi mấy đồng. Nó không đủ tiền cũng phải trả người ta bốn mươi lăm đồng-tiền estimate. Nó xin thêm thời gian, và tôi đã đồng ý.

Ngày tháng như vũng trâu mùa hạn, nước khô dần, khô dần... tôi quên hết bực mình với tiếng Việt lớ ngớ của nó. Sự không rành thành thật như những mũi kim châm vào hối hận của tôi. Cái ngon ngọt của trái xoài, trái ổi bắn trộm được thuở bé không còn hương vị, nhưng hối hận đã chối bay chối biến, đổ tội cho bạn cứ dày vò tôi mỗi khi nhìn thấy nó...

Đau điếng khi nó xin lỗi tôi nó đã có cái xe riêng là do ba má nó mua cho chứ không phải tiền của nó. Tôi nói với nó:
- "Mày lo việc học đi. Cái cửa rạn nứt nhưng chưa vỡ. Chừng nào tốt nghiệp bác sĩ thì mua cho tao cái nhà mới luôn..."

Hình như tôi với nó là hai người bạn thân trong xóm; có điều không ai biết chúng nói chuyện gì với nhau. Hôm nó tìm tôi để báo việc nó không học bác sĩ mà nó đi lính. Tiền lương đầu tiên nó sẽ gởi về cho tôi để thay cửa kính, thiếu đủ tính sau khi nó về phép. Tôi đã đồng ý với lời khuyên:
- "Mày có bạn gái chưa? Nếu đã có thì tiền lương lính đầu tiên, hãy mua món quà bằng hết tiền lương của lính, gởi về cho người yêu..."
- "Why?" Nó hỏi tôi như thế.
- "Tao đã làm như thế!"
- "Vậy, cái check thứ hai tôi sẽ gởi về cho ông?"
- "Đúng vậy!"
- "Cảm ơn ông hiểu tôi hơn cả cha mẹ tôi. Tôi rất biết ơn ông."
- "Mày sẽ mua cái gì cho người yêu với first pay check của mày? Tao OK - không được biết. Nếu mày không muốn nói..."
Nó cười...
- "Bác nói tiếng Việt giống con rồi đó!"

Thằng nhóc khoác ba-lô hiền lành như tôi hôm vào lính. Nó không ngờ là tôi cầu nguyện bình an cho nó đêm đêm...

Phan

TRẦN VẤN LỆ * Câu Cuối Một Bài Thơ


Đêm cuối năm.  Giờ chót của năm.  Tôi không buồn ngủ.  Chưa đi nằm.
Ngoài hiên trăng sáng, vầng trăng sáng, một nửa vầng trăng cũng sáng trưng!

Sáu mươi phút cuối, tôi làm chi?  Nhớ bạn bè xa chớp chớp mi?
Mở máy nhìn chơi, mi chớp chớp, một hàng con chữ xếp hàng đi...

Tôi nhớ bâng quơ, nhớ một người!  Năm tàn tháng tận tình xa xôi.
Ai xa đâu nhớ về tôi nữa, thư xế nhận rồi, không có tôi!

Một trăm tấm thiếp khi cầm lại, vài cái, mà thôi, uổng tấm lòng!
Vàng đá gửi đi không thấy tiếc bởi lời châu ngọc cứ hằng mong!

Đêm cuối năm...
Giờ chót của năm...
Người tôi gần lắm đã xa xăm.  Thương sao bụi phấn thời lau bảng.
Nhớ quá học trò Bùi Thị Xuân!

Này cô giáo cũ hình trên blog, có biết tôi còn mấy phút không? 
Châu ngọc để đâu sao chẳng thốt, để chờ năm ngoái, hẹn sang năm?

Một người tôi nhớ gần gang tấc, má lúm đồng tiền Tết chẳng cho...
Tôi mở máy nhìn con chữ chớp, trăng ngoài cửa sổ bỗng thành thơ...

Em ơi câu cuối là câu đó.  Trăng với em nằm trên giấy khuya!

Trần Vấn Lệ

Tuesday, January 3, 2012

Trần Kiêm Đoàn * Thiền Giữa Đường


Đối với một người Mỹ làm việc bình thường thì mỗi năm có một kỳ nghỉ lễ dài nhất là ngày Lễ Tạ Ân – Thanksgiving – kéo dài từ thứ Năm đến Chủ Nhật của tuần lễ cuối tháng 11. Lễ nầy liên quan đến “ân tình” giữa dân da trắng và da đỏ châu Mỹ trong buổi đầu lập quốc của nước Mỹ chứ chẳng liên quan gì đến tôn giáo nào cả. Theo tthông lệ, ngày thứ Năm ăn gà Tây, ngày thứ Sáu là ngày mua sắm bận rộn nhất trong năm trên toàn nước Mỹ. Đó là ngày Thứ Sáu Đen – Black Friday – vì thiên hạ đổ xô đi mua hàng đại hạ giá. Người mua phải xếp hàng chờ thâu đêm đợi các cửa hàng mở cửa, gây cảnh phố xá đông nghẹt người, đường sá kẹt xe, hàng hóa chất đầy, khách hàng xuôi ngược, xách mang hụt hơi nên trần gian xinh đẹp nầy bỗng thành… đen thui, đen thủi!
Bé Na từ New York về thăm nhà ở Cali nhân dịp lễ Tạ Ân. Khác với mọi năm, sáng ngày Black Friday năm nay, tôi ngạc nhiên vì cô con gái út thức dậy rất sớm, nhưng ngồi lặng lẽ trong phòng và không hề nhắc đến chuyện mua sắm như mọi năm. Mấy chị hỏi, Na trả lời đơn giản: “Na có các thứ đủ dùng rồi. Để cho mấy người còn thiếu đi mua.” Tôi hơi ngạc nhiên vì thái độ trầm tĩnh của cô gái út thường láu táu nhất nhà. Mặc dầu bé Na cũng làm nghể thầy thuốc Tây, hàng ngày phải làm việc với bệnh nhân trong phòng mạch như hai cô chị, nhưng bản tính hồn nhiên cười to, nói tếu pha chút nghịch ngợm với người thân vẫn không khác đi từ khi ra trường làm việc. Ngạc nhiên với sự thay đổi, tôi phải hỏi loanh quanh hoài bé Na mới tiết lộ là dạo này thích ăn chay và thường tu học thiền tịnh với các nhà sư Tây Tạng sau giờ làm việc hơn cả năm nay rồi.
Giữa ngày, trời bỗng mưa to gió lớn. Cơn bão đầu mùa đang đến. Mấy cô chị, cô em có vẻ thất vọng ra mặt vì chiều nay cả nhà phải đi ăn đám cưới con gái bác Thuận, một người rất thân vượt biển Đông cùng ghe với gia đình chúng tôi 30 năm trước. Ấu Hương, cô dâu, là bạn thân của bé Na nên đã mời Na làm người điều khiển chương trình cho tiệc cưới. Ngoài lý do là đôi bạn thân, còn có lý do tế nhị hơn nữa về ngôn ngữ và văn hóa vì đây là cuộc hôn nhân của hai gia đình Mỹ - Việt nên cần một người trẻ nói được cả hai thứ tiếng và biết ứng xử tự nhiên những nét có liên quan đến văn hóa cả Ta lẫn Người trước đám đông. Những người ăn mặc đẹp đẽ, áo quần tươi tắn như hoa mà mặt buồn rười rượi. Nhìn lại, chỉ có bé Na là không bị bụi mưa thấm đẫm khuôn mặt và nụ cười.
Giờ mời tiệc cưới đã tới gần mà cơn mưa bão vẫn còn vật vã. Ra khỏi nhà, đúng là cảnh “nhà giàu đứt tay, ăn mày đổ ruột”. Xa lộ số 5 với tốc độ thường ngày 120 cây số một giờ như đông đặc lại với bốn dãy xe nối đuôi nhau chạy chậm rì rì. Xe cảnh sát, xe câu, xe chữa lửa, xe cứu thương hụ còi inh ỏi, đèn chớp loang loáng. Hết chiếc nầy đến chiếc khác chạy luồn lỏi giữa các dòng xe. Mọi người ngồi ẩn kín trong xe. Tôi ngồi ghế trước với bé Na cầm tay lái. Những “hành khách tài xế ghế sau” là bà mẹ và mấy cô chị bẻm miệng cũng là những tay lái xe đầy tinh thần Lương Sơn Bạc vì thường níu giờ làm đẹp, phải chạy đua tới nơi làm việc cho khỏi trễ giờ vào phút chót. Cô nầy hiến kế là phải lấn bên nầy, lách bên kia để lợi đường hơn một quãng. Cô kia cố vấn là phải tăng tốc đổi qua lối bên cạnh để chiếm thế thượng phong… Nhưng mặc ai nói ngã nói nghiêng, thì Na vẫn tỉnh như kiềng lửa xăng. Nhìn vào khuôn mặt tĩnh lặng như không có gì đáng chú ý của bé Na, lại đến lượt bố già nóng ruột lên tiếng, tôi hỏi:
- Sao con không gắng vượt trước một vài xe. Mình có việc cần mà.
Bé Na mỉm cười hiền hậu:
- Thì biết đâu người ta cũng cần như mình.
- Mình khác họ vì mình có đám cưới đang chờ. Con lại làm em xi – Master of Ceremony – nữa nên cần đến sớm hơn.
- Dạ, con biết. Trời gần tối rồi, lại gặp lúc mưa bão nên ai cũng có người chờ hết ba ơi.
- Con nắm chương trình trong tay, nếu trễ thì làm sao ăn nói với người ta.
- Mình giữ lời hứa, làm đúng hết sức mình đến sớm nhưng gặp chuyện trở ngại bất ngờ thì đành chịu thôi. Lo lắng cũng không làm mưa gió lặng được ba à.
Ngoái nhìn đằng sau thấy toàn cả những khuôn mặt đầy dáng vẻ căng thẳng. Nhưng liếc nhìn cô con út đang lái xe, vẻ mặt vẫn thư giản và bình lặng. Tôi cảm thấy sự nôn nao của mình dịu lại. Dường như sự an tịnh tạo ra được một không gian xa tít tắp để cuốn hút những dấy động ưu tư tạm thời vào thanh thản. Bé Na nhìn bố già cười tươi và bắt gặp nét cười thân thương trả lại.
Chúng tôi đến nhà hàng Happy Garden đã quá giờ mời nhưng khung cảnh vẫn còn trống trải. Khách dự tiệc cưới trú mưa trong xe đóng kính bịt bùng, chen chúc trên những ngã đường đầy mưa gió bây giờ mới lục tục kéo đến. Tất cả đều thoáng vẻ mệt mề vì lo sợ bất an trên đường đi và chưa dịu bớt sự căng thẳng vì lo lắng trễ giờ. Vừa bước vào cửa nhà hàng, gia đình bác Thuận và Ấu Hương đã ùa tới. Ấu Hương ôm chầm bé Na, giọng vui mừng và xúc cảm đến muốn khóc:
- Hú hồn hú vía, tao mừng quá vì mi tới được. Cứ sợ mưa bão mi không tới được hay tới trễ giờ thì chết tao thôi.
Bé Na nói nhẹ nhàng:
- “Don’t worry”! (đừng lo mà mệt), tụi mình vẫn sống nhăn răng đây nè. Tao tới “trễ sớm” một giờ mà vẫn còn bị sớm. Hì, hì… chờ bà con tới đông hơn chút nữa tụi mình sẽ bắt đầu vô chương trình mi nghe.
Bé Na xuất hiện trên sân khấu với vẻ tươi mát, nhẹ nhàng. Trong một dạ tiệc năm sáu trăm người vừa qua những giờ phút lên ruột trong cơn mưa bão, giọng nói trong trẻo cả tiếng Việt phụ tiếng Anh và dáng dấp thanh thản, thân tình, duyên dáng của người điều khiển chương trình đã cuốn hút cả khách Việt lẫn khách Mỹ.
Từ phía bàn khách dành cho người thân ngay trước sân khấu, tôi không rời mắt theo dõi bé Na. Suối nguồn tâm linh đã thay đổi điệu sống của con người, một điệu sống hài hòa và an lạc.
Sau buổi tiệc cưới gần như hoàn mãn, trên đường về, hai bố con lại rì rầm nói chuyện. Tôi tò mò hỏi bé Na:
- Các nhà sư Tây Tạng đã dạy cho con những điều gì mới lạ?
Bé Na trả lời gọn lỏn:
- Dạ, mấy Thầy dạy Thiền Giữa Đường!
Suýt nữa tôi cười to, hỏi lại:
- Cái gì là thiền giữa đường. Sao lại có pháp môn “Thiền Giữa Đường” kỳ cục vậy kìa?!
- Dạ đó là Middle Path hay Middle Way mà Thầy có nói thêm bằng tiếng Ấn Độ là Madhyama-pratipada hay Majjhima-pratipada gì gì đó khó đọc quá mà con quên mất rồi!
Tôi bỗng nhớ ra và cười giòn khoái chí, giải thích:
- A, đó là Trung Đạo; là con Đường Giữa chớ không phải là ở giữa đường. Đây là con đường đi mà Đức Phật đưa ra để tránh những cực đoan trong cách sống và tu học.
- Con dốt tiếng Việt mà ba làm con rối mù rồi đó. Cực đoan là gì ba?
- Hà, hà… cực đoan là chỉ theo về một phía. Nếu chỉ có một phía bên nầy thì sẽ có phía bên kia đối nghịch lại. Phía nầy mạnh thì phía kia cũng mạnh. Phía nầy nhẹ thì phía kia cũng nhẹ. Nên khi không dính mắc vào bên nầy thì sẽ tránh được phản ứng bên kia. Như thương lắm thì sẽ có ngày ghét lắm. Thương chút chút thì sẽ có ngày ghét chút chút. Trong cái nầy đã chứa sẵn cái kia. Hai phía cực đoan ấy cứ đối chọi qua lại với nhau hoài không bao giờ ngừng nghỉ.
- Dạ, con nhớ ra rồi. Thầy Lạt Ma dạy con có kể chuyện ngày xưa Đức Phật cũng đã thử như thế. Ngài đã bỏ giàu sang để tìm khổ cực. Ngài đã nhịn ăn, sống đói rách để quên mình mong tìm được điều tốt đẹp. Nhưng cách đó không “work”, nên Ngài phải trở lại đời sống bình thường thì mới thành ông Phật phải không ba?
Tiếng cười tươi dòn của bé Na kéo tôi về thực tại và hỏi:
- Vậy con có khi nào thực tập “Thiền giữa đường” chưa?
Đến lượt bé Na ngạc nhiên hỏi lại:
- Thì con đã sống theo “Thiền giữa đường” từ hôm về thăm nhà đến giờ Ba không thấy à?
Tôi đặt tay lên vai con gái, hỏi dồn:
- Khi nào vậy con?
Bé Na nói như cười vui với chính mình, kể ra:
- Buổi chiều từ New York về Sacramento, vì trời sương mù, máy bay trễ mất ba giờ, cả nhà lo, mẹ gần khóc nhưng con không thấy lo lắng vì máy bay trễ do thời tiết là thường. Chiều nay lái xe dưới trời mưa bão, nhưng con vẫn cảm thấy không khác gì như đi trong trời tạnh nắng. Ngồi trong xe, ba mẹ và mấy chị ai cũng muốn chen lên, vượt người khác vì sợ trễ giờ, nhưng con không thấy gì cần phải giành đường hơn thua với người khác vì họ cũng muốn đi đâu đó sớm như mình thôi. Vào nhà hàng, nhiều người chưa hết lo sợ, nhưng con lại thấy bình an và vui lòng giúp bạn… Thầy con gọi như vậy là sống thiền, sống đạo đó ba.
- Ừ, thì “bình thường giai thị đạo” mà.
- Nữa, ba lại nói Sino-Vietnamese (Hán Việt) làm con không hiểu gì hết.
- Ba quên. Câu đó có nghĩa là khi mọi cái đều ở chỗ bình thường, nghĩa là không bị lay động làm mất đi thế đứng yên ngay chính giữa như không cao không thấp, không sướng không khổ, không ghét không thương, không vội không chậm… như con lái xe chiều hôm qua là gần với đạo, là gần ở thế Trung Đạo.
- Dạ, thầy Lạt Ma cũng nói vậy. Thầy dạy thiền là sống với “mind” (tâm) chớ không phải sống với “body” (thân). Thân có thể nằm, ngồi, đi, đứng nhưng tâm vẫn ở “giữa đường” là thiền.
Tôi lại cười và nhắc:
- Ở Trung Đạo chớ không phải là ở giữa đường.
Bé Na như khám ra một điều gì mới lạ, kêu lên:
- Ơ! Mà con “thiền giữa đường” thiệt đó ba. Ngày nào con cũng phải lái xe đi làm xa. Đường Freeway ở New York kẹt xe khiếp lắm. Nhớ lời Lạt Ma, con đi sớm không sợ trễ, không phiền vì trời sương mù, không vui vì trời nắng hay mưa, không buồn vì trời mưa hay nắng. Lái xe là lái xe. Cứ nhắm thẳng đường mà chạy, không chen, không lách nên khỏi động đến ai nên cũng không có ai động đên mình. Gặp khi kẹt xe thì chạy nhanh, chạy chậm hay dừng theo xe trước; người ta sao mình vậy. Không lo, không sợ, không buồn, không giận ai làm gì cho mệt.
Nghe con bé kể chuyện lái xe trên đường cũng hay hay, nhưng vẫn còn thắc mắc, tôi hỏi:
- Như vậy con chỉ có “thiền giữa đường” khi lái xe thôi sao?
- Ui cha! Nhiều nhiều lắm kể không hết đâu. Khi con thấy vui và chẳng lo lắng gì trên đường chạy xe thì con tìm ra được nhiều thứ khác mà mấy năm trước con không thấy, không nghe. Trên đường đi con thấy rõ những con đường và con đường nào cũng có vẻ hay riêng của nó. Có khi con đọc được những câu vui vui, hay hay của người đi trước dán sau xe. Cũng có lúc con nghe cả hơi thở của mình ra vào mà thương cái mũi mình làm việc nhiều quá không có “vacation.” Rồi cái vui cứ theo con đến chỗ làm việc. Con thấy đôi mắt của người nào con khám cũng đẹp mà trước đây con thường thấy đôi mắt người trẻ thì đẹp, người già thì xấu, chỉ có mắt bệnh hay mắt khỏe thôi. Khi con tự vui trước thì người khác cũng vui theo. Rồi nhiều người thích con và con cũng cũng thích họ tự nhiên mà không cần cố gắng nói nhiều chi cả.
Tội nghiệp con bé cố tìm cho ra chữ, ra câu để kể chuyện vừa qua cho bố già nghe và quay về với thực tại:
- Chừ ngồi đây với ba mẹ và gia đình, sáng sớm mai con về lại New York rồi, nhưng con không cảm thấy mình buồn muốn khóc như mấy lần trước vì ở đâu mà con thương mẹ, thương ba, thương anh chị em thì con đang có ba mẹ và gia đình bên cạnh và trong tâm con rồi.
Tôi rơm rớm nước mắt vì cảm động và thương con, đồng thời có dịp suy tư về con đường Trung Đạo. Dẫu được gọi dưới bao nhiêu danh từ, định nghĩa qua bao nhiêu khái niệm, biện luận qua bao nhiên nan đề thì con đường chính giữa, ngay thẳng, không một mảy may dao động vẫn là con đường hóa giải hận thù, thuần hóa đua tranh và dụng trí cứu khổ.
Thật đáng vui vì bé Na không bị kẹt giữa những luận thuyết quá cao xa về đạo Phật. Người thuyết giảng đạo Phật có tài cũng ví như người nấu ăn ngon. Khi món ăn thơm ngon do một đầu bếp giỏi nấu ra thì người mù chữ hay nhà đại khoa bảng đều cùng thưởng thức hương vị thơm ngon của thức ăn mà không cần lý luận quanh co, không cần nhãn hiệu.
Đạo Phật đơn giản mà rắc rối như một dòng sông. Trăm nguồn trộn chung về một nhánh; trăm nhánh trộn chung về một dòng; và trăm dòng rồi cuối cùng cũng trôi ra biển cả.
Bởi vậy, chẳng lạ gì người theo Nhất thần thì cho đạo Phật là “duy vật” vì không tin có một Đấng Sáng Tạo sinh ra muôn vật. Người theo Đa thần thì cho đạo Phật là “duy tâm” vì ai cũng có ông Phật, ông Thánh, ông Bồ Tát, ông Thiện, ông Ác trong tâm; hễ dụng công tìm cầu ai thì gặp nấy. Người theo Duy vật lại cho đạo Phật là “dầu Cù là” vì chỉ thoa dịu vết đau tạm thời mà không chữa lành bệnh tình nhân thế. Người theo Duy tâm lại cho đạo Phật là thuốc “Xuyên Tâm Liên” vì bệnh gì cũng dùng được như “vạn pháp đều là Phật pháp”. Tất cả họ đều đúng khi nhìn từ vị thế của mình. Nhưng tất cả đều sai hay ít nhiều khập khiễng khi xét từ thế Trung Đạo.
Vì đạo Phật không có một con đường mà có quá nhiều con đường thường được gọi là “vô lượng pháp môn” nên tuổi trẻ như bé Na cần phải có nơi nương tựa tinh thần. Tìm về đạo Phật mà không gặp được ân sư chân chính là những bậc chân tu thì sẽ rất dễ rơi vào cảnh “rước lang băm về chữa bệnh, rước thầy cúng về trừ tà.” Cuối cùng, phải đối diện với cảnh niềm tin bị đổ vỡ. Hệ lụy khó tránh được là sự buông tay trôi theo những dòng cuốn thực dụng của chiến lược cải đạo toàn cầu đang diễn ra khắp nơi với kế sách “chinh phục tâm lý để hoán chuyển tâm linh”. Dẫu đó là một cách chinh phục mang tính bản năng tương tự như lề thói “lấy tình dục chinh phục tình yêu” giữa cảnh đời thường; nhưng nhất thời vẫn lôi kéo được bao người ra khỏi đường Trung Đạo.
Nếu chiều nay được đi lại trên con đường cũ – dẫu ở quê hương hay ở quê người – thì tôi vẫn nhớ “thiền giữa đường” như một hình ảnh rất vui nhắc nhở rằng ở Việt Nam đang có một phong trào gieo cười, tìm cười, tập cười với phương châm “vui là chính” gọi là Đạo Cười. Người theo Đạo Cười cho rằng Hội Long Hoa đang khai diễn và đức Phật Di Lặc đang hóa thần về trần xung quanh chúng ta: Ai biết cười là người Di Lặc! Đạo Phật là con đường cứu khổ mua vui. Có ông bạn thi sĩ đàn em của Bút Tre đã đổi luôn cả ca dao để kiếm một nụ cười rất… “thiền giữa đường”:
Dẫu xây chín đợt phù đồ,
Sao bằng làm phước chọc cho phải cười!
Việt Nam ta có tới mấy mươi kiểu cười, nhưng toàn cả những nụ cười có đeo theo vũ khí. Chỉ có độc nhất một kiểu cười: Cười thống khoái phát ra từ cái tâm mở rộng, bình an, vô sự, vui thật trong lòng, không so đo tính toán như… Thằng Bờm có cái quạt mo.
Sacramento, mùa Noel 2011
Trần Kiêm Đoàn

Monday, January 2, 2012

NGUYỄN LỆ UYÊN * Buổi Sáng Trong Làng

Gà vừa cất tiếng gáy sang canh, Dự vội vã bật dậy nhóm bếp nấu ấm nước pha trà, loại trà nát như cám được phân phối theo tem phiếu trên cửa hàng mậu dịch của hợp tác xã. Uống loại nước chan chát không mùi vị khiến anh có cảm giác như lúc ở trại Thập hái lá cây rừng sao vàng thay trà. Dẫu sao trà cám vẫn hơn nước đun sôi và nước đun sôi vẫn hơn loại lá rừng đắng chát. Với lại, thời buổi này không thể tìm đâu ra thứ trà ướp ngâu, ướp sen… mà có thì cũng không có tiền mua. Cái gì cũng có thể trở thành thói quen, anh thầm nghĩ và uống cạn bình trà trước khi đứng dậy ra tháo cổng chuồng.


Lúc lùa đôi bò ra ngõ, vợ Dự vừa kịp lóp ngóp ngồi dậy, hỏi nhóng theo:
-Sáng nay anh ăn ghé khoai lang hay mì?
Dự nhổ phẹt bãi nước bọt xuống nền đất, xoay cây cày sang vai phải, từ bìa sân gạch nói với:
-Gì cũng xong. Đầy bụng là quý rồi.


Đôi bò theo thói quen, ra khỏi ngõ rẽ qua truông trái, chậm rãi bước thẳng ra đồng. Cây cày trên vai bị trở vai liên tục, vì hồi nào tới giờ anh có biết cày cuốc là gì. Học chưa hết năm đệ Tam tới tuổi phải vào lính, đánh nhau suốt từ năm này sang tháng khác cho đến lúc bị gán cho tội cầm súng đế quốc chống lại nhân dân. Cái tội tày đình đó phải học tập cải tạo như bao nhiêu người khác cùng cảnh ngộ đến gần hai năm. Hai năm theo đúng nghĩa của người tù khổ sai để cuối cùng cầm mảnh giấy rơm vàng ố quay về trình diện địa phương. Như vậy kể cũng may mắn: Đạn bom chưa giết chết Dự. Bệnh tật, đói khát, sơn lam chướng khí… trên rừng núi không vật ngã được anh. Dự vẫn sống nhăn răng để trở về và chịu đựng tiếp những khổ nạn của thân phận thằng ngụy quân cầm súng bắn phá cách mạng, chống lại nhân dân…


Cây cày đè nghiến trên vai. Màn đêm lờ mờ. Cây cày bị xoay trở liên tục. Lúc ngang qua xóm Gòn, lũ chó chạy ra thọc mõm qua bờ rào sủa như muốn xé rách màn đêm. Cả một đàn chó trong xóm cùng gào lên như thể Dự là quân trộm cắp, là bóng ma đang lởn vởn trong làng. Ra tới chòi canh đầu xóm, người du kích quấn chiếc mền thu lu quanh cổ, đang bập bập điếu thuốc chỉ thấy đốm lửa đỏ như que nhang, quẹt đèn pin thành vệt dài một lượt, hỏi:
-Cày sớm anh Hai?
-Cày sớm về nghỉ cho khỏe.
-Ngồi hút điếu thuốc đã.
-Thôi, để tranh thủ. Tôi chịu nắng dở lắm - nói và Dự thúc đôi bò bước nhanh.
Bóng đêm vẫn còn đậm đặc, tiệp với màu cây cối hai bên đường. Tiếng chó sủa thôi rát nhưng tiếng gà gáy thì bắt đầu rộ lên. Cũng tiếng gà ấy, nhưng ngày trước nghe giục giã, còn giờ thì nghe mỏi mòn, eo óc, giống tiếng kẻng lệnh treo giữa xóm, trên cây duối, điều khiển mọi hoạt động của đám người trong làng.


Đôi bò lầm lũi bước. Dự lầm lũi bám theo chúng, trở thành vị cứu tinh của cả nhà. Dự áng chừng cũng gần bốn giờ sáng. Bốn giờ bắt đầu mắc bò vào quải, bắt đầu đánh rõng, cày đến khi mặt trời gát qua khỏi đọt tre cũng gần mười giờ. Mười giờ mở bò, mở trước lúc tiếng kẻng lệnh vang lên chói tai. Thời gian lúc này đối với Dự (và cả dân làng) không còn có thể nhìn vào chiếc kim nhỏ chạy vòng tròn trên mặt số nữa rồi. Tiếng gà gáy và mặt trời đã thay thế vị trí của nó, bởi những chiếc đồng hồ đã được đem bán đi để mua thêm vài mươi cân lúa dự phòng. Có đồng hồ trong nhà mà cái bụng tóp teo phỏng ích gì, ai cũng nghĩ vậy.


Mắc được đôi bò vào quải, Dự đã nghe rõ mồm một tiếng lội bì bõm trong đám ruộng bên. Té ra cha con hương Bổn còn ra đồng sớm hơn. Dự tằng hắng:
-Bữa nay nữa xong chưa đó?
Tiếng hương Bổn từ xa:
-Chưa. Còn gần hai sào nữa.
-Tôi ráng bữa nay là gác cày.
-Mửng này đói vẫn hoàn đói, chưa chết là may - tiếng hương Bổn lầu bầu không ăn nhập gì tới sự quan tâm cày nhanh chậm.


Dự nghe mà không trả lời, cầm chui cày, nhịp roi lên mông đôi bò. Cả ba dựa vào nhau bước tới. Bước tới để hít mùi bùn đất dậy lên gây gây trong buổi sáng tinh mơ. Tiếng chân bò thả bì bõm trong nước. Đôi chân anh cũng thả bì bõm trong màn nước ngậm bóng đêm lạnh ngắt. Thỉnh thoảng những bước chân bước hụt xuống lỗ đất hẹp thấp làm nước ruộng bắt vọt lên mặt, lạnh ngắt. Nhưng cái lạnh ấy khiến anh cảm thấy có chút yên ổn rằng mình đang còn cử động, hơi thở vẫn còn phụt ra hai lỗ mũi, tim vẫn còn đập, dẫu biết rằng đó là giả tạm. Lưỡi cày găm vào đất, xới lên thành vồng tỏa ra thứ mùi thơm nồng đặc biệt. Đó là mùi bùn đất lưu cửu tổ tiên để lại cho con cháu bằng cả mồ hôi, nước mắt và máu và xương. Cái mùi ấy đã thấm sâu vào da thịt dân làng này. Họ biết vậy. Biết và hàm ơn nên ông bà lớp trước mới xây một ngôi đình khang trang để thờ người mở đất…


Đó là ngôi đình thờ thành hoàng. Ngôi đình rộng mênh mông từ bao đời, bỗng nhiên, chỉ trong một buổi sáng, nó biến thành nơi hội họp của hợp tác xã theo lệnh của ai đó ở trên. Họ nói thờ cúng là mê tín dị đoan. Với lại đất đai là của nhà nước, của nhân dân chớ không của riêng một kẻ nào, không có ông thành hoàng nào mở đất cả!


Lệnh rớt xuống như lưỡi dao bén chém ngang thân chuối. Cái lệnh ấy khiến đám thanh niên lóc chóc hò la xông vào, gỡ những tấm nghi khậu, liễng đôi ném xuống đất như thể chúng đang đánh nhau với kẻ thù. Đám khác chia nhau ôm cờ phướn, đèn thờ, trống, phèn la… vất vào gian lẫm phía sau chái. Vật tế tự, từ khí nằm vương vãi, lăn lóc như xác địch quân sau trận chiến ác liệt. Máu không chảy thành vũng, nhưng những mạng nhện lòng thòng có vẻ như những mảnh tim gan phèo phổi của tổ tiên rớt ra từ những vật tế lễ kia. Phút chốc ngôi đình trống hoác. Bức hoành phi với mấy chữ đại tự sơn son thếp vàng, mới đây còn uy nghiêm trên thanh xà gian giữa, giờ nằm chổng chơ trên nền đất lạnh.


Dự đi ngang qua, tình cờ cong người nhìn vào và chợt thấy, rùng mình như hồi nhỏ từng chứng kiến cảnh tiêu thổ kháng chiến. Ông gạt những giọt mồ hôi lấm tấm trên trán và những giọt nước mắt chực chảy ra, quay lui ra phía kiệt tre và đụng mặt ngay cô Lại đang bước tới, người bạn chận bò thuở thiếu thời. Lại cười khẩy, rít lên:
-Anh tiếc mấy thứ giẻ rách kia hả, cứ vào lấy mang về nhà. Tôi cho đấy!
Dự liếc mắt nhìn cô, nghĩ thầm: Không ngờ con Lại của mười mấy năm về trước nay thay đổi thiệt nhanh chóng. Cô lạnh lùng, tàn nhẫn… vụt bay ra từ cái nhìn nhọn sắc và hàm răng khít rin, thù hận. Dự suy nghĩ mãi, không hiểu tại sao cô lại làm như vậy? Một đứa con gái như bao cô gái khác trong làng, cần mẫn với ruộng vườn, bếp núc; cũng cười đùa hể hả với đám bạn mỗi khi có dịp đùm túm với nhau. Vậy nhưng sau cái đêm cô biến mất khỏi làng, “sau một thời gian dài không tung tích, nó đột ngột quay về trong đêm, tập hợp dân làng hô hào nổi lên diệt ác ôn đánh Mỹ cứu nước - Cha Dự chậm rãi cất giọng lào khòa kể lại - Nó răn đe mọi người sẽ bị xử trị đích đáng nếu tiếp tay cho địch. Nói xong nó bắn một phát súng thị uy rồi biến mất trong đêm tối một cách đột ngột như lúc đến”. Giờ thì Lại quay về, lãnh đạo cả xã, cả làng phá sạch những thứ mà Lại gọi là tàn dư, là rác rưởi của đế quốc và tay sai để lại. Mấy ngôi miễu thờ cô hồn là nạn nhân đầu tiên; ngôi chùa nhỏ cuối làng cũng không thoát khỏi số phận hẩm hiu… Rồi nay tiếp đến ngôi đình này. Không biết cô còn nghĩ ra những gì khác nữa để tiếp tục đập phá cho hả lòng căm thù?


Những khi cô ra lệnh như vậy, Dự tự hỏi, có giây phút bất chợt nào đó, Lại nhớ về cái đêm trăng non sang tiết lập thu? Đêm mà cô háo hức xô ngã Dự lọt qua bờ rào chiêm chiêm, phóng theo đè lên người Dự. Mảng da thịt âm ấm của cô gái mười bảy phủ chụp lên khắp người thằng nhóc con là Dự đang bước vào tuổi dậy thì, khiến nó run rẩy với những khoái cảm sững sờ. Lại sờ soạng, bấu riết, hôn lên mặt mũi, lột truồng nó ra, giống như lúc bị xô ngã qua hàng rào chiêm chiêm rồi biến nó thành đàn ông khi mới mười ba! Đêm trăng non trong tiết lập thu vĩnh viễn để lại trên người Dự vết sẹo của nỗi hoang mang, sợ hãi cuộn tròn lại như những đợt sóng lớn nhỏ đập mãi vào bờ đá. Những ngày đi lính, gặp phụ nữ Dự sợ còn hơn đang lúc đánh trận. Đêm đầu tiên gần vợ, Dự cong người lại y như lúc ngã qua bờ rào. Nỗi sợ hãi chập chờn trôi nổi bềnh bồng như túm rác trôi trên con kênh đen quánh… Lại, dưới con mắt Dự là hiện thân của những tội lỗi rực rỡ chồng chất thành những vệt lân tinh trong khu rừng ẩm ướt mỗi lúc hành quân, trên chiếc giường tre có cô vợ bé nhỏ nằm bên cạnh và ngay cả khi thả chân xuống mặt ruộng trắng nước. Tiếng bước chân của chính Dự vang lên bì bọp, òn ọt khiến Dự luôn có những cái rùng mình bất ngờ…
Dự vãi mồ hôi giữa buổi tinh mơ lạnh ngắt.


Đôi bò thong thả kéo chiếc lưỡi sắt nhọn lật tung những dề đất phía dưới, còn Dự thì miên man suy nghĩ xa gần trên chuôi cày. Ba sinh linh bé nhỏ giữa đất trời cao rộng này bơi vòng vòng quanh đám ruộng hợp tác xã, giống con vịt bơi trong ao tù.


Cày đâu hơn hai rõng đất thì trời sáng rõ. Lát sau cu Lớn lơn tơn xách giỏ cơm đặt trên bờ ruộng gọi lớn: “Cha ăn cơm con về đi học!”. Dự ngoái lại nhìn thằng con ốm nhách, cao như cây sậy, trong lòng gợn lên nỗi cồn cào không hình dạng. Hồi nhỏ, anh có đâu như vầy. “Ừa, để đó”. Dự la lớn và hình như tiếng la đó rớt cái tõm xuống ruộng nước. Cu Lớn đã lên tới bờ mòn, cắm cúi bước thật nhanh về phía làng.


Dự cày giáp vòng, đến gần phía bờ đặt rổ cơm, anh dừng lại, rút náp cho lưỡi cày găm sâu xuống đất (giống như người ta thắng xe) hô “dọ, dọ…” để đôi bò dừng lại rồi gát roi lên bắp cày, thủng thỉnh bước lên bờ.
-Anh Năm ơi - Dự kêu lớn - nghỉ vào ăn cơm cái đã.
-Ăn đi. Tôi ăn cơm nguội ở nhà rồi.
-Thì nghỉ uống nước cái đã. Xong sớm tôi qua cày giúp anh mấy đường - Dự nói cho có nói chứ trong bụng biết tỏng hương Bổn chưa có hột cơm nào trong bụng. Mấy tháng nay vợ bệnh, con đau số lúa dự trử cứ vơi dần, lấy đâu cơm sáng cho ông đi cày? Đến viên thuốc cũng không có, thay vào là những viên xuyên tâm liên từ hiệu thuốc nhân dân đắng ngắt trị bá bệnh thì bệnh nào qua khỏi!


Hương Bổn dừng bò, kẹp chiếc roi cày vào nách bước về chỗ Dự đang ngồi.
-Cái đời tôi - hương Bổn khọt khọt trong cổ họng để đẩy cục đờm vướng víu đâu đó, khạc ra, nhổ phẹt xuống mặt nước ruộng - lúc nào cũng đen đủi, bắt thăm trúng đôi bò cày của con mẹ Chánh ốm nhách, gioongs như đồ như lao, thúc mấy cũng không mập lên. Người ta cày cả sào thì nó lê lết chưa được phân nửa. Mẹ đời, tôi muốn trả lại cho hợp tác quá trời, ngặt nỗi trả lại thì lấy gì mà sống đây. Đã bị phân vào tổ cày bừa rồi. Còn phần ruộng chú thấy đó, nó là cái ao thì đúng hơn, phải bơi để cấy…


Dự nghe giọng nói hùn hụt gần như đứt hơi, cảm thấy chạnh lòng:
-Anh Năm, kệ mẹ đời, anh ăn chút cơm rồi hẵng cày. Chòm xóm với nhau anh khách khí làm gì.
-Tôi đã nói, ăn rồi. Chú biết tánh tôi mà?
Nói dứt câu, hương Bổn thở phì phì như chính ông kéo cây cày nặng trình trịch thay đôi bò và tiếp tục bơi trong đám ruộng ao của mình.
-Thôi anh, để hôm nào họp tổ, anh em xúm nhau đưa đơn xin đổi đôi khác cho anh.
-Đổi ai? Đâu có đôi nào “rề dẹt” mà đổi. Thiệt ngán. Tôi muốn giao lại, nhưng nhìn đàn con lít nhít thấy không nỡ. Mẹ đời. Cách với chả mạng. Trước tôi đâu đến nỗi khổ vầy. Bao nhiêu ruộng vườn ép vào hết hợp tác, thành của người khác, của nhân dân, mình trắng tay. Mẹ cứt, nhân dân là cặc chó gì không biết nữa!
-Thôi đi anh Năm ơi. Đại nạn là chung cho cả bầy người lúc nhúc, đâu riêng gì anh em mình? Hè, làm chén cơm cho nóng rồi xuống cày tiếp.
Hương Bổn xua tay:
-Ăn rồi. Cơm nguội từ hôm qua cứng như sạn cũng cố mà nuốt. Chú mày ăn đi, tao uống miếng nước, không thấy đói. Nói và ông giở ấm chén rót ra uống đánh ực một hơi rồi lần vô túi áo rút gói thuốc rê ra vấn. Điếu thuốc to bằng ngón tay cái quấn bằng giấy vở học trò tách đôi ra như người ta lóc phần da và thịt con cá lóc. Hương Bổn kẹp điếu thuốc lấm lem mực viết. Điếu thuốc cứ rung rung giữa hai ngón tay như chính nó đang lên cơn sốt.


Dự chần chừ một lúc mới giở tấm lá chuối đậy trên rổ cơm vừa ái ngại nhìn người hàng xóm, cảm thấy như mình là kẻ có tội với cha con hương Bổn. Dự biết là ông chưa có hột nào trong bụng, nhưng nài ép chút nữa có nghĩa là làm nhục ông ta, bèn dùng tay nhón lấy chút cơm lẫn trong những miếng sắn mì, vón thành cục nhỏ chấm muối é cho vào miệng, nhai nhỏn nhẻm. Dự cũng không hơn gì hương Bổn, có điều đỡ gánh nặng gia đình, chỉ phải nuôi đứa con duy nhất. Vợ Dự còn khỏe, vào tổ đan đát, mỗi ngày kiếm cũng vài trăm gam lúa. Cả hai chắt mót, tùng tiệm cũng đủ xoay xở. Chỉ tội hương Bổn. Con đông quá, cả hai vợ chồng vật lộn với ruộng đồng cũng không đủ miếng ăn.


Dự đậy tấm lá chuối lại, hỏi xin điếu thuốc. Hương Bổn ngó sững Dự:
-Sao không ăn. Chú tội nghiệp tôi hả?
-Dạ không, anh Năm. Tự dưng hết muốn nuốt. Làm ăn kiểu này đến lụn bại mất. Anh nhớ mùa rồi, tụi thằng Cạnh thằng Sang giấu lúa hột kéo về nhà? Chúng nó là đội trưởng, đội phó đấy. Lại nghe nói tay chủ nhiệm và tay thủ kho tuồn mấy tấn ra chợ đen. Bị bể ổ, nhưng chúng tự biết dán miệng nhau thành ra êm xuôi, chẳng có thằng xã viên nào dám hó hé.
-Đấy, mình xỏ miệng vô thì trước sau cũng bị gán phản động.
-Tôi vẫn ức vụ ngôi đình.
-Ức thì chú làm được gì?
-Đúng là không làm được gì. Nhưng cái mặt con Lại đấy, từ đất nẻ chui lên chắc?
-Tôi biết nó thù chú mà? Mấy lần chú giải thích nhưng nó đâu có nghe, phải không?
-Giải thích gì anh ơi. Tôi chỉ nói là nếu cần hung thì dọn dẹp đồ thờ tự sang một góc để làm tạm hội trường, chớ có đập phá, tội. Kẻ hậu sinh cũng phải nhớ công lao người đi trước. Tôi nói chỉ có vậy mà cổ kêu tôi là kẻ phá hoại. Anh coi có oan tôi không?


Hương Bổn kéo một hơi thuốc thật dài, phà khói bay thành mảng trên mặt nước:
-Chuyện dâu biển, nay dời mai đổi, biết đâu mà lường, chú ơi.
Hai người chuyện vãn một lát rồi đứng lên, trở lại cầm chuôi cày.


Những dề đất lật qua một bên láng tưng như thoa một lớp mỡ. Những con sáo nâu, cò xám sà tới tranh nhau những con trùn nước, cắn mổ la chí chóe. Chúng đậu thật gần, chỉ cần hươ củ roi là đụng ngay, nhưng Dự không làm vậy. Nó cũng đang tìm miếng ăn như bọn anh mà. Anh không để ý đến lũ cò sáo, cắm cúi cầm chắc chuôi cày, cốt cho thật nhanh để ngày mai theo bọn thằng Xanh lên núi hái ít gánh củi về dự trử cho mùa mưa bão sắp tới. Cày bừa xong giao đất cho tổ gieo sạ coi như yên một bề, tìm thêm chuyện mà làm, đâu có thể nằm chờ mấy công điểm mọn?


Nắng lên cao, thu ngắn bóng người cày và đôi bò về một phía. Còn một rõng nhỏ nữa là xong, có thể qua bên hương Bổn cày giúp ông ta vài đường, nhưng tiếng ví thá bên kia ruộng sao nghe cứ nhỏ dần, bước chân và đường cày như một dòng nước yếu bị cản lại không thành tiếng lõm bõm như lúc trước. Dự ngó qua. Đôi bò chệnh choạng dựa vào bắp cày bước thật chậm. Hình như cả hương Bổn cũng bước chậm. Dự La lên:
-Anh Năm mệt lên bờ ngồi nghỉ. Tôi cũng sắp xong. Để đó tôi qua cày giúp cho.
Tiếng Dự bay đâu đó trên không, không thấu tai hương Bổn. Hình như ông ta đuối hung rồi. Dự “dọ” bò dừng lại, bước vài bước về phía ruộng hương Bổn đang cày, nhưng chưa tới bờ đã thấy hương Bổn khụy xuống, tay vẫn nắm chặt chuôi cày làm cho nó nghiêng hẳn về một bên.
Dự hớt hải la lên:
-Anh Năm, anh Năm… làm sao vậy? Có bị sao không?


Lúc Dự tới nơi thì hương Bổn ngồi khụy xuống ruộng nước, mặt tái xanh. Dự luồn hai tay qua nách đỡ ông đứng lên:
-Anh có sao không?
Hương Bổn không mở được miệng chỉ lắc lắc đầu, nhưng cái lắc rất yếu. Dự hiểu tất cả. Ông bị lũi đói. Từng ấy miếng cơm độn ít ỏi từ chiều qua thì còn sức đâu để cày với bừa? Dự khom người thấp xuống quàng tay hương Bổn lên vai rồi du dần vào bờ, đặt nằm trên lớp cỏ lởm chởm. Dự lấy chiếc nón ngựa kê đầu, rót nước ra chén và vạch miệng đổ từng hớp nhỏ:
-Ít thôi nghe anh Năm, từ từ. Mà anh cũng thiệt lạ. Chòm xóm với nhau, ăn chút cơm ghé có gì là ghê gớm Tôi biết bụng anh trống nhưng không dám nài ép sợ anh giận. Thôi, cứ nằm nghỉ cho khỏe rồi mở bò. Tôi cũng mở. Mai tôi ra quanh mấy đường xong ngay. Chớ lo, anh Năm.


Nhưng Dự nói cho chính tai mình nghe vì đôi mắt hương Bổn đã nhắm nghiền, bên khóe ứa ra chút nước sền sệt. Ông không còn nghe và thấy gì nữa. Dự hoảng hốt thọc tay vào ngực người bạn cày hàng xóm, lạnh ngắt. Dự bàng hoàng, khóc ồ lên như nỗi uất ức lúc bị đẩy qua bờ rào chiêm chiêm, đè nén lại thành cục u nhỏ đầy gai nhọn, bấy lâu nay có dịp vỡ bung ra.


Hai đôi bò vẫn đứng yên tại chỗ. Bóng nắng thu tròn, nhỏ lại quanh hai người./.