văn hữu vườn tao ngộ

Nơi lưu trữ tác phẩm của PBTD và thân hữu. Liên lạc: phanbathuyduong@gmail.com

Tuesday, March 27, 2012

Nguyễn Mạnh Trinh * Nguyễn Đình Toàn: viết nhạc như một thi sĩ

 



Hai mươi năm văn học miền Nam có thi sĩ Nguyễn Đình Toàn với những bài thơ được chép trong những cuốn vở học trò thì có văn sĩ Nguyễn Đình Toàn với tác phẩm Áo Mơ Phai được giải thưởng văn chương toàn quốc.Và cón có một chân dung nghệ sĩ nổi bật không kém. Đó là nhạc sĩ Nguyễn Đình Toàn.
Trong một cuộc nói chuyện với ông, tôi có nói rằng bản Sài Gòn Niềm Nhớ Không Tên là bản nhạc mà tôi thích nhất của ông vì nó gợi ra cho tôi những kỷ niệm. Thì ông trả lời ngay rằng những bản nhạc có tính chất thời sự như thế ông sáng tác vì sự bức xúc nhưng chưa phải là những bản nhạc mà ông tâm đắc nhất mặc dù nó nổi danh vì được nhiều người chia sẻ. Ông cho rằng những bản tình ca sẽ muôn đời ở trong tim óc mọi người như chính những lời viết giới thiệu mà ông đã đọc trong chương trình Nhạc Chủ Đề ngày xưa…

Kỷ niệm nào thì cũng đáng nhớ và những bản nhạc gây ra ấn tượng trong tiềm thức ấy cũng sẽ là những điều chẳng thể nào quên.
Như bản nhạc “ Sài Gòn niềm nhớ không tên” của nhạc sĩ Nguyễn Đình Toàn.
Bản nhạc ấy đã gây thật nhiều cảm xúc cho tôi vì tôi nghe bản nhạc ấy lần đầu tiên ở trại tù Long Khánh do một người bạn đồng tù hát. Nhạc đệm chỉ là một cây đàn guitare tự chế bằng tôn nhôm và gỗ săn nhặt được và giây đàn được làm bằng những sơi dây điện thoại tước ra từng sợi nhỏ tạo thành. Cũng như ca sĩ là người chung cảnh ngộ hát bằng cả tấm lòng và giọng hát thầm thì như của một người đang làm một công việc mạo hiểm , hát để cho vơi tâm sự mặc kệ mọi sự cấm đoán đe dọa của hệ thống quản giáo cai tù đầy dẫy ăng ten báo cáo. Tôi cũng chẳng hiểu làm sao mà những bản nhạc như thế lại được hát và phổ biến ở trong tù như vậy. Chúng tôi xung quanh ngồi nghe như uống từng nốt nhạc , như chắt từng câu ca. Sài Gòn xa rồi, bây giờ ở ngoài vòng rào kẽm gai mịt mùng. Sài Gòn , vẫn còn gần gũi những ngày mà thành phố thảng thốt lọt vào tay giặc thù, những anh hồn liệt sĩ còn phảng phất đâu đây từ những ngày bi thảm mà chúng tôi bị buông súng một cách tức tưởi…
Lời nhạc lôi kéo chúng tôi; ngôn ngữ hiền từ tha thiết không kêu gọi máu lửa nhưng sao lại lôi cuốn chúng tôi dường ấy:
“Sài Gòn ơi, ta mất người như người đã mất tên- như dòng sông nước quẩn quanh buồn-như người đi cách mặt xa lòng- ta hỏi thầm em có nhớ không… Sài Gòn ơi, đến những ngày ôi thành phố xôn xao-trong niềm vui tiếng hỏi câu chào- sáng đời tươi thắm vạn sắc màu- còn gì đâu..”

Lúc ấy, chúng tôi chưa biết bản nhạc ấy là của nhạc sĩ Nguyễn Đình Toàn. Tên nhạc sĩ tác giả là cả một huyền thoại đối với chúng tôi lúc đó. Có người bảo đó là của nhạc sĩ khác hát bản nhạc ấy ở hải ngoại rồi cảm xúc đến nỗi bị ngất xỉu ngay trên sân khấu.Có người bảo đó là một bản nhạc của một nhạc sĩ đang bị giam ở khám Chí Hòa truyền ra ngoài và phổ biến. Đến mãi về sau, khi đã qua Mỹ định cư tôi mới biết tác gỉa là người chủ trương Chương trình Nhạc Chủ Đề trên đài phát thanh Sài Gòn và là thi sĩ, văn sĩ nổi tiếng của hai mươi năm văn học miền Nam…

Chương trình Nhạc Chủ Đề do nhà văn Nguyễn Đình Toàn thực hiện trên đài phát thanh Sài Gòn vào buổi tối ngày thứ năm hàng tuần với mục đích giới thiệu với thính giả những bản nhạc được lựa chọn và được viết với lời giới thiệu và giọng đọc rất đặc biệt của người chủ trương. Cuối thập niên 1960, có ba chương trình nhạc chọn lọc được giới trẻ sinh viên học sinh ưa thích là chương trình Tiếng Nhạc Tâm Tình do ca sĩ Anh Ngọc phụ trách, ban Tiếng Tơ Đồng do nhạc sĩ Hoàng Trọng thực hiện và chương trình Nhạc chủ đề của nhà văn Nguyễn Đình Toàn. Người được kể là đọc lời dẫn nhập vào chương trình hay nhất là nhà văn Mai Thảo đọc cho chương trình nhạc của ca sĩ Anh Ngọc và giọng đọc Của Nguyễn Đình Toàn cho Nhạc Chủ Đề…

Theo như ý kiến của nhiều người, những lời giới thiệu nhạc hay nhất trong lịch sử âm nhạc có lẽ là bài viết và giọng đọc của các nhà văn kể trên. Những bài viết ấy đã mở ra những khung trời lãng mạn mà người nghe có cảm giác như đã quên đi hiện tại để bồng bềnh trong mênh mang của chữ nghĩa và âm nhạc…
Chương trình Nhạc chủ đề ấy có những lời mở đầu như những cánh tay mở khung cửa mơ mộng, để ở đó tình yêu trở nên mơ màng hơn, có chuốt lọc nhưng lại có những cảm giác nhẹ nhàng như tơ làm mềm lòng những tuổi thanh xuân đang hăm hở vào đời với sự tinh khôi trong sáng của những bình minh hứa hẹn những giọt nắng thủy tinh ngời tin yêu nồng biếc .

Ai đã nghe qua những lời mở thế này mà không rung động? Nhất là những chàng tuổi trẻ ngày xưa nay đã thành những ông già lão nhìn lại quá khứ ngày nào đã rất xa , thật xa mà sao lại còn rưng rưng nỗi niềm chia sẻ:
“Tình ca- những tiếng nói thiết tha và tuyệt vời nhất của một đời người- bao giờ cũng bắt đầu từ một nơi chốn nào đó, một quê hương , một thành phố, nơi người ta đã yêu nhau.. Tất cả mùa màng , thời tiết, hoa lá , cỏ cây, của cái vùng đất thần tiên đó , kết hợp lại, làm nên hạnh phúc,làm nên nỗi tiếc thương của chúng ta…”
Hay như một lời ngỏ khác, thầm thì, kêu gọi những bước trở về , đi ngược lại vòng quay vô tình của thời gian:
“Em đâu ngờ anh còn nghe vang tiếng em trong tất cả những tiếng động ngù ngờ nhất của cái ngày sung sướng đó: tiếng gió may thổi trên những cành liễu nhỏ,tiếng những giọt sương rơi trên mặt hồ, tiếng guốc khua trên hè phố…Ngần ấy thứ tiếng động ngân nga trong trí tưởng anh một thuở thanh bình nào, bây giờ đã gần im hơi, nhưng một đôi khi vẫn còn đủ sức làm ran lên trong ký ức một mùa hè háo hức, một đêm mưa bỗng trở về, gió cuốn từng cơn nhớ…Anh bỗng nhận ra anh vẫn còn yêu em, dù chúng ta đã xa nhau như hai thành phố…”

Những câu mở đầu như thế trên làn sóng điện phát thanh đã làm cho bao nhiêu người tuổi trẻ mến mộ. Nó là cánh cửa mở vào cõi âm thanh của những ca sĩ và những ca khúc của một thời âm nhạc Việt Nam. Những khúc nhạc tiền chiến và những bản nhạc mà về sau này đã thành tài sản quý giá của dân tộc Việt Nam mà tác gỉa là những Trinh Công Sơn , Lê Uyên Phương, Vũ Thành An, Ngô Thụy Miên, Từ Công Phụng,…Từ những ca khúc đầu tay được trình diễn, họ đã mau chóng nổi tiếng…

Tôi thời còn là sinh viên đã rất mê chương trình này. Có thể nói , đó là một phần khá đẹp của cuộc sống tôi. Bây giờ , nghe lại CD của Nhạc Chủ Đề cũ, tôi lại bồi hồi và một phần đời đã qua như hồi sinh lại.
Sau này, ở xứ Mỹ, tôi có hỏi ông về trường hợp sáng tác bản nhạc này như thế nào thì ông chỉ nói qua với sự rất hờ hững coi như đó chỉ là một trong những gần trăm bản nhạc ông đã sáng tác. Và ngay cả khi tôi hỏi về cách ông thực hiện hàng trăm chương trình nhạc làm say mê cả một thế hệ trẻ trong thời kỳ ấy hoặc hỏi về mấy trăm bài thơ và mấy chục tác phẩm vừa tiểu thuyết vừa tùy bút nổi danh một thời thì cũng với vẻ hờ hững ấy , ông cũng trả lời với vẻ thản nhiên của một người đã trải qua nhiều thay đổi và hiểu được rằng có những điều không cần biện giải của cái tự nhiên đã có.
Cũng như, khi tôi hỏi về những khó khăn của cuộc sống hiện nay, ông cũng trả lời chẳng có gì cưc nhọc dù rằng tôi hiểu được đó là một sự thản nhiên chấp nhận của một người đã trải qua nhiều mệt mỏi của cuộc đời.

Nói về âm nhạc của mình, ông nói đó là những ca khúc mà ông gọi là viết trong những thời gian tăm tối nhất của lịch sử và của chính cuộc sống ông. Nhưng đó lại là những lời kêu gọi yêu thương mong con người trở về với tình tự dân tộc. Có những bài hát trong tuyển tập nhạc “ Hiên cúc vàng”, “ Tôi muốn nói với em “ và Mưa trên cây hoàng lan” đã chứng tỏ điều ấy. Chất nhân bản đã làm thành những ca từ đẹp và có sức thuyết phục mạnh với thính giả và cũng chuyên chở một cách thâm trầm những thông điệp gửi cho người cho đời những ước vọng và tâm sự.

Những lòi nhạc như “Tôi đã bám lấy đất nước tôi. bằng sức người vô hạn. Bằng sức người đầu đội trăm tấn bom. Tim mang nghìn dấu đạn. Tôi đã đổ mồ hôi, đổ máu tươi. Để mong ở lại đây. Nhưng đất đã đỏ vì bị nung bằng những lời dối trá. Người bám vào lửa đã đốt cháy tay. Lửa hờn căm, lửa hiểm thâm, lửa khốn cùng cay đắng. Người lừa nhau trời đất còn bưng mặt thảm thương. Ba mươi năm cuộc tương tàn chưa đủ? người giết người không kịp mở mắt trông. Ba mươi năm mạng người như rác cỏ, giây hòa bình còn thắt cổ người tin…”trong bản nhạc ” Tôi cố bám lấy đất nước tôi” có phải là những lời chân thành dù trong cơn tuyệt vọng nhưng vẫn còn cố gắng bám víu vào cuộc sống một ý nghĩ nào tích cực nhất.?

Những lời ca viết cho thành phố Sài Gòn trong thời thế ấy bỗng dưng trở thành những lời kêu gọi của một dân tộc đã chịu quá nhiều đau khổ. Hết rồi những cơn mưa chiều cũ, mất rồi những buổi sáng rực rỡ xưa. Lời ca, ý nhạc lôi kéo chúng ta trở về con hẻm nào của những hẹn hò, của nụ hôn môi tuyệt vời , của hương tóc thề e ấp phả trong tà áo lụa xôn xao. Cái cảm giác ngày nào như sống lại, làm gai gai trong da thịt nỗi ngây ngất thuở nào. Nghe đâu đây như bước chân nào trở về đồng vọng….

Tình ca Nguyễn Đình Toàn là một tuyệt phẩm cho những người yêu nhau. Nếu chúng ta có tràn đầy kỷ niệm với “Em đến thăm anh đêm ba mươi” thì chắc chúng ta cũng bồi hồi nhớ lại thuở nào với “Căn nhà xưa”. Câu hát thầm thầm trong trí nhớ “Tay em lạnh để cho tình mình ấm, môi em mềm trong giấc ngủ anh thơm, sao giao thừa xanh trong đôi mắt ngoan, trời sắp tết hay lòng mình đang tết, tháng ngày cũng phôi pha rụng từng mùa..”. Còn tình tứ nào hơn và cũng tiếc nuối nào hơn cái giây phút của cuối năm. Hay những lời nhạc trong “Căn nhà xưa” với những hình ảnh thân quen với những ấn tượng chẳng thể nào phai nhạt trong caí thuở yêu nhau mà chẳng nghĩ đến buổi chia tay: “Em có nhớ đến căn nhà xưa bên khu vườn cải, nơi những sớm mai nằm nghe nắng ròn trên mái.. Có những sớm mai em tìm đến với những đóa hồng khép nép trong vòng tay ôm.. Nghe sau lưng em có chiếc lá mừng, đã đổi màu xanh lấy hương nồng..”

Có một bản nhạc với tên khá lạ lùng. “Chim đắng đót” Tôi cũng chưa hình dung ra được con chim này như thế nào nhưng biết chữ đắng đót từ câu thơ:” Đắng đót ghê thay mùi tục lụy/bực mình theo Cuội tếch cung mây” và theo Việt Nam Tự Diển của Lưu văn Đức và Lê Ngọc Trụ thì đắng đót có nghĩa lađàu đớn khổ sở. Chim đắng đót kêu mãi kêu hoài trong ca khúc:
“ trên núi cao kia
tôi nghe tiếng con chim đắng đót kêu sương
Chim nhớ ai mà lời chim đau thương?
Trên cánh đồng kia
Có con bướm khô cành rơi trên đường
Nước mắt tôi khóc tràn
Không dập tắt được
Lửa tình trong tôi
Oâi có ai kia thức thâu đêm mới biết đêm sâu
Mới biết tim ta là bể đau khi yêu
Như chiếc thuyền con
Giữa cơn sóng xô , cuốn trôi vật vờ
Đến lúc về đến bờ
Sóng xô sóng dồn chỉ còn hồn bơ vơ
Trên núi cao kia tôi nghe tiếng con chim có lúc bay qua
Tôi nói với ai để lòng tôi nguôi ngoai
Hỡi những người tình sống trong thú vui dối gian cợt cười
Sẽ có khi các người
Khóc thương cho tình của mình
…như tôi”

Với những bản tình ca ấy , dù có chút đớn đau , có chút hoài niệm nhưng vẫn bàng bạc ở trong những lời tinh khôi một điều gì nhẹ nhàng tựa như tiếng gọi thầm của những hứa hẹn cho hạnh phúc mai sau. Không gian có thể là biền biệt hai đại lục xa cách một biển trời. Thời gian có thể là những tháng năm chồng chất vui buồn mà vui thì hiếm hoi và buồn thì tràn khắp.Nhưng vẫn trong nhạc mà lời thơ đan kết , tình ca ấy vẫn là tiếng thở của con tim một người nghệ sĩ nhạy cảm tuy nhiều bi quan nhưng lại vẫn tin tưởng vào cuộc đời và những trong sáng tình người. Những ca khúc thiết tha ấy bao giờ cũng ngân lên từ những nơi chốn mà một đời người đã gắn bó lâu dài. Hà Nôi , Sài Gòn, chẳng còn phải là một thành phố mà hơn nữa, nó là thánh địa của yêu thương mà ở đó tâm hồn người tháp cánh để vượt lên trên thời gian không gian xa cách.

Nghĩ và viết về chiến tranh , trong văn, trong thơ, trong nhạc chúng ta có rất nhiều. Chiến tranh là một trời tang tóc, là những bi kịch cho cả dân tộc.Và cuộc chiến càng ác liệt bao nhiêu thìkhát vọng hòa bình lại càng lớnlao như thế. Nhưng, đau đớn thay, khi ngưng tiếng súng thì lại bắt đầu một thời kỳ vô cùng bi đát của lịch sử Việt Nam. Nguyễn Đình Toàn cho đó là hiện tượng những người không làm ra lịch sử mà lại phải gánh chịu những thảm họa của lịch sử. Kẻ làm ra những bi kịch ấy , hình như là những người lạ mặt, là những mắt xanh râu xồm , là những kẻ thúc giục một cuộc chiến để phá vỡ một hệ thống xã hội đang có để thành lập một chế độ khác tệ hại hơn vạn lần. Cái trớ trêu của lịch sử Việt Nam là có những kẻ rao giảng những điều không tưởng của ý thức hệ ngoại lai để tạo thành cảnh núi xương sông máu.Tuổi trẻ Việt Nam đã có những lời kinh cầu từ:
“Vâng tuổi trẻ tôi như lá thu
đã nửa vàng từ cơn gió đưa
hồn còn trong như một bài kinh
vâng tuổi trẻ tôi như phúc âm
đã gian truân từ đêm tối tăm
người còn say sưa bày tiệc vui
từng thịt xương máu người còn khơi
hòa bình đến với lời cầu xin
triệu hồi chuôngtrong tháp tin vui
nhưng âm vang chưa tàn
đã thấy một thủy triều nước mắt đầy hơn…”

Sau 1975, bị đi tù với tội danh là “ văn nghệ sĩ”, ngồi trong khám nghe ngoài kia đời sống bình thường trôi qua, những ca từ như có một chút gì thầm thỉ nhớ về. Chiều ở trong tù thật buồn , như nỗi nhớ thương cứ loang trong huyết quản. Bài nhạc “Chiều trong tù”:
Ai nghe chăng tiếng đàn xa vắng
Ta nghe ta đã dường khác xưa
Tay qua ngang vết hằn năm tháng
Trong đau thương tóc người cứng khô
Ytên hoang vu những tầng mây trắng
Ta nghe ta trong niềm xót xa
Vvai em thơm như mùa thu nắng
Vai bao nhiêu.. máu hồng tình xa
Chiều trong tù anh nhớ em
Anh trông trời, trời như tấm khăn
Trông quanh mình như hàng khóa câm
nhưng mắt người quầng thâm cũng trông
người nhớ người , hơi nhớ hơi
trong âm thầm còn ai nhớ ai
cho mưa lạnh lùng rơi xuống rồi
cho đêm buồn một cơn đau dài”

Có phải thơ là nhạc và nhạc là thơ và nỗi nhớ mong cũng rất.. Nguyễn Đình Toàn, một chút nhẹ nhàng sương khói, một chút bàng bạc xót xa. Và trong cùng tận thâm tâm vẫn là mong manh mơ hồ một niềm tin nào vẫn còn hiện hữu.
Viết về Nguyễn Đình Toàn, hình như tôi bị vướng vất với kỷ niệm của tôi. Mà trong ký ức ấy, có rất nhiều niềm vui của người luôn luôn sống từng giây từng phút với dĩ vãng mình. Nó sống sinh động, là ký vãng chứ không phải là quá vãng. Đọc văn ông, đọc thơ ông và nghe nhạc của ông tôi không dừng được từ những miên man cảm xúc. Và lúc ấy , tôi có cảm giác là sống thêm được một vài giây phút mà tôi cho là “bonus“ của một ngày của riêng tôi…