văn hữu vườn tao ngộ

Nơi lưu trữ tác phẩm của PBTD và thân hữu. Liên lạc: phanbathuyduong@gmail.com

Tuesday, March 13, 2012

TUỆCHƯƠNG HOÀNGLONGHẢI * Biển Đông



“Thuận vợ thuận chồng, tát biển Đông cũng cạn”



1) Biển Đông, tên gọi


Khi còn nhỏ, chưa biết đọc sách, tôi biết ở phía đông nước ta có biển, tên gọi là Biển Đông.


Đầu tiên là do những kỷ niệm thời thơ ấu. Sau “tháng Tám nám trái bưởi” là mùa mưa gió, lụt lội, mùa “mưa phùn gió bấc”, nhiều đêm biển động nghe rõ lắm, mặc dầu thành phố Quảng Trị, “miền thơ ấu” – như người ta thường gọi – , xa biển khoảng bảy, tám cây số. Vào những đêm biển động ầm ì như thế, cha tôi (gọi bằng cậu) không gọi là “biển động” mà gọi là “sấm”: “Biển Đông sấm động.” Đó là những đêm “chớp bể mưa nguồn” như trong thơ Trần Tế Xương vậy.


Ca dao, ai nấy cũng thường nghe khi còn nhỏ, cũng gọi biển ấy là biển Đông. Bài ca dao sau đây thì chưa rõ hẵn.


Ai đi đường ấy hỡi ai?!
Hay là trúc đã nhớ mai đi tìm?
Tìm em như thể tìm chim!
Chim bay biển bắc em tìm biển Đông!


Hai bài sau đây nói rõ hơn, xác định biển ở phía đông là “biển Đông”, tức là biển của người Việt Nam chúng ta.


Anh mong gởi cá cho chim
Chim bay ngàn dặm cá chìm biển Đông!
Biển Đông sóng dậy bốn mùa
Ai cho bậu uống thuốc bùa bậu mê!


- Gởi cá cho chim là gởi một món ăn cho người… yêu. Người yêu thì bay xa ngàn dặm. Cá thì chìm ngoài biển Đông, là biển phía đông của nước ta, cũng có nghĩa là biển của ta.


- Biển Đông thì lúc nào cũng có sóng, giống như bậu lúc nào cũng mê vì… bị bùa!!!!


Câu ca dao gây ấn tượng nhiều nhứt cho chúng ta là hai câu sau đây:


Dã tràng xe cát biển Đông,
Nhọc mình mà chẳng nên công cán gì!


Khi nước biển rút xuống, bãi cát bên bờ biển bày trơ ra, những con dã tràng (giống như con cua, nhỏ hơn cái nắp keng của chai bia, tên nôm na là con “còng”), xuất hiện bên bờ biển, lấy càng vo những viên cát nhỏ, nhỏ hơn cái nút áo. Rồi nước thủy triều lên, đánh tan những viên cát đó. Chúng xe cát để làm gì? Giống như người con trai đi làm rể công khó ở nhà vợ chưa cưới, cuối cùng không cưới được vợ, như công dã tràng xe cát vậy.


Câu tục ngữ sau đây, dạy về luân lý, hay hơn nhiều: “Thuận vợ thuận chồng, tát biển Đông cũng cạn”. Câu nầy cũng có nghĩa rằng Biển Đông là biển của người Việt Nam.


2) Sự sai lầm của người Tây phương


Đi học, xem sách được rồi, tôi thấy trong sách Địa Lý cấp tiểu học trước 1945, ghi biển Đông là “Biển Nam Hải.” Tôi hơi ngờ. Có lẽ sách địa lý ghi sai.


Sách giáo khoa địa lý thời Pháp thuộc, có lẽ dựa vào sách Tây mà ghi là Nam Hải.


Người Tây, khi nhìn về phương Đông, họ chỉ thấy có hai nước lớn: Tầu và Ấn Độ. Kha Luân Bố, năm 1492, khi tới được Tân Thế Giới, tưởng lầm là phía Tây Ấn Độ, nên gọi người “mọi da đỏ” là Indian.


Còn Tầu?


Sau khi vua Quang Vũ nhà Hán mở mang “con đường lụa” (Silk Road) hay còn gọi là “Con Đường hồ tiêu” (Spice Road), Marco Polo theo con đường nầy sang Tầu làm quan 12 năm, đời nhà Nguyên (Mông Cổ), rồi anh chàng Polo về lại châu Âu, viết sách giới thiệu về nước Tầu, người Tây phương chỉ biết bên trời Đông chỉ có Trung Quốc, (nước ở giữa, chung quanh chỉ là phiên ly). Ngoài “Chung Côốc”, họ không biết gì hơn, và cũng không cần biết gì hơn, cho nên bán đảo Đông Dương (Việt Nam, Lào, Campuchia), họ gọi chung một tiếng là “Indo-China”, có nghĩa một nửa là Ấn Độ, một nửa là China (Trung Hoa) cho gọn sổ sách mà không cần phân biệt, không cần biết ba dân tộc Việt Miên Lào ở bán đảo ấy là dân tộc nào, chẳng có máu mũ, giòng họ gì với dân tộc của Đức Khổng Tử hay dân tộc của Đức Thích Ca Mâu Ni cả.


Đến thế kỷ 19, học gọi chung vùng nầy Đông Nam Á (tên gọi ngày nay), là Viễn Đông (Extrême Orient)


Ba dân tộc nầy chịu ảnh hưởng văn hóa Tầu và văn hóa Ấn Độ. Nó cũng giống như người Tây Âu chịu ảnh hưởng văn hóa Hy-La vậy thôi. Rõ ràng, những nhà đia lý, thám hiểm, các ông cố đạo thế kỷ thứ 15, 16, 17… khi đến Đông Dương, chẳng chịu động não một chút nào, nên mới gọi ẩu biển Đông của người Việt là “Biển Nam Hải” (biển phía Nam của người Tầu!)


Thằng bé Hoàng Long Hải nầy, tên hồi nhỏ là Hoàng Thế Đức, cũng khi còn nhỏ, trước năm 1945, cảm thấy khó chịu như thế nào ấy, khi thấy trong sách địa lý “cấp tiểu học” (cấp 1 bây giờ), ghi Biển Đông là Biển Nam Hải.


3) Người dân nước nào hoạt động ở biển Đông?


Người Tầu, người Việt đều đã hoạt động, như đánh cá ở biển Đông.


Người Việt đánh cá ở biển Đông, có lẽ cũng không nhiều, vì đi đánh cá xa, cần có tầu lớn, có khi neo ghe ở Hoàng Sa nghỉ chân, “nghe gà bên Tầu gáy”. Tôi đã hỏi một ông chú họ, thời Pháp thuộc đăng lính Khố Xanh (“địa phương quân” của Khâm Sứ Trung Kỳ), có thời ra đóng giữ Hoàng Sa, về câu chuyện “nghe gà bên Tầu gáy”. Ông chú tôi cười, giải thích:


- Khâm sứ Trung kỳ có cho lính đóng đồn ở Hoàng Sa. Mỗi phiên ra Hoàng Sa là sáu tháng, di chuyển bằng ghe buồm, từ Đà Nẵng ra Hoàng Sa rồi quay lại. Khoảng cách từ Hoàng Sa tới Đà Nẵng và từ Hoàng Sa tới bờ biển phía nam đảo Hải Nam gần bằng nhau (tính phỏng chừng). Người Việt Nam đi đánh cá ở biển Đông thường dừng chân ở Hoàng Sa. Người Tầu Hải Nàm đi đánh cá ở biển Đông cũng nghỉ chân ở đó. Nghe tiếng gà trên thuyền đánh cá của người Tầu Hải Nàm gáy, người ta cũng cho là gà bên Tầu gáy, ý muốn nói địa điểm của Hoàng Sa là “xa lắm”, chứ không có nghĩa rằng Hoàng Sa gần Tầu hơn gần Việt Nam.


Có lẽ người Việt đánh cá ở biển đông từ lâu lắm, từ trước thời chúa Nguyễn, bởi vì đầu thế kỷ 17, theo “Vikipedia”, chúa đã cho:


“…. tổ chức khai thác trên các đảo. Đội Hoàng Sa và Đội Bắc Hải có nhiệm vụ ra đóng ở hai quần đảo, mỗi năm 8 tháng để khai thác các nguồn lợi: đánh cá, thâu lượm những tài nguyên của đảo và những hóa vật do lấy được từ những tàu đắm.


Theo “Phủ Biên Tạp Lục” của Lê Quý Đôn thì: “Phủ Quảng Ngãi huyện Bình Sơn có xã An Vĩnh ở gần biển, ngoài biển về phía Đông Bắc có nhiều cù lao, các núi linh tinh hơn 130 ngọn, cách nhau bằng biển, từ hòn này sang hòn kia phải đi một ngày hoặc vài canh thì đến. Trên núi có chỗ có suối nước ngot. Trong đảo có bãi cát vàng dài, ước hơn 30 dặm, bằng phẳng rộng lớn, nước trong suốt đáy… Các thuyền ngoại phiên bị bão thường đậu ở đảo này. Trước họ Nguyễn đặt đội Hoàng Sa 70 suất, lấy người xã An Vĩnh sung vào, cắt phiên mỗi năm cứ tháng 2 nhận giấy sai đi, mang lương đủ ăn 6 tháng, đi bằng 5 chiếc thuyền câu nhỏ, ra biển 3 ngày 3 đêm thì đến đảo ấy. Ở đây tha hồ bắt chim bắt cá mà ăn. Lấy được hóa vật của tàu (nước ngoài bị đắm vì bão),… Đến kỳ tháng 8 thì về, vào cửa Eo, đến thành Phú Xuân để nộp, … Họ Nguyễn đặt đội Bắc Hải, không định bao nhiêu suất, hoặc người thôn Tứ Chính ở Bình Thuận, hoặc người xã Cảnh Dương, ai tình nguyện đi thì cấp giấy sai đi,…, cho đi thuyền câu nhỏ ra các xứ Bắc Hải, cù lao Côn Lôn và các đảo ở Hà Tiên,…, cũng sai cai đội Hoàng Sa kiêm quản… Hoàng Sa gần phủ Liêm Châu đảo Hải Nam, người đi thuyền có lúc gặp thuyền cá Bắc Quốc,…


Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí” viết: “Xã An Vĩnh, huyện Bình Dương ở gần biển. Ngoài biển, phía Đông Bắc có đảo [Hoàng Sa] nhiều núi linh tinh, đến hơn 130 ngọn núi. Đi từ núi [chính] ra biển (tức sang các đảo khác) ước chừng một vài ngày hoặc một vài trống canh. Trên núi có suối nước ngọt. Trong đảo có bãi cát vàng, dài ước 30 dặm, bằng phẳng rộng rãi… Các đời chúa Nguyễn đặt đội Hoàng Sa 70 người, người làng An Vĩnh, thay phiên nhau đi lấy hải vật. Hàng năm, cứ đến tháng 3, khi nhận được lệnh sai đi, phải đem đủ 6 tháng lương, chở 5 chiếc thuyền nhỏ ra biển, 3 ngày 3 đêm mới đến đảo ấy (tức Hoàng Sa)… Đến tháng 8 thì đội ấy lại về, vào cửa Yêu Môn (tức cửa Thuận An) đến thành Phú Xuân, đưa nộp.


Năm 1686: (năm Chính Hòa thứ 7) Đỗ Bá Công biên soạn “Thiên Nam Tứ chí Lộ Đồ Thư” trong “Hồng Đức Bản Đồ” hay “Toàn Tập An Nam Lộ” trong sách “Thiên Hạ Bản Đồ”. Tấm bản đồ trong “Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ” được vẽ theo bút pháp đương thời với lời chú rất rõ ràng: “Giữa biển có một dải cát dài gọi là Bãi Cát Vàng (Hoàng Sa) dài tới 400 dặm… Họ Nguyễn mỗi năm và cuối mùa Đông đưa 18 chiếc thuyền đến đấy lấy hàng hóa, được phần nhiều là vàng bạc, tiền tệ, súng đạn…”, còn bản đồ vẽ trong Toản Tập An Nam Lộ thì ghi chú rất rõ địa danh Bãi Cát Vàng trên biển khơi phía trước của những địa danh trên đất liền như các cửa biển Đại Chiêm, Sa Kỳ, Mỹ Á, phủ Quảng Nghĩa và các huyện Bình Sơn, Chương Nghĩa, Mộ Hoa. (hiện nhà nước CHXHCN Việt Nam còn lưu giữ các bằng chứng lịch sử này)


Năm 1753: Có 10 người lính của Đội Bắc Hải đến quần đảo Trường Sa: 8 người xuống đảo, còn 2 người thì ở lại canh thuyền. Thình lình cơn bão tới và thuyền bị trôi dạt đến cảng Thanh Lan của Trung Quốc. Chính quyền Trung Hoa cho điều tra, và khi biết các sự kiện, đã cho đưa 2 người lính Việt Nam về. Lê Quý Đôn viết: “Tôi đã từng thấy một đạo công văn của quan chính đường huyện Văn Xương Quỳnh Châu gửi cho Thuận Hóa nói rằng: năm Càn Long thứ 18 (1753), có 10 tên quân nhân xã An Vĩnh tổng Cát Liềm huyện Chương Nghĩa phủ Quảng Ngãi nước An Nam, một ngày tháng 7 đến Vạn lý Trường Sa tìm kiếm các thứ, có 8 tên lên bờ tìm kiếm, chỉ để 2 tên giữ thuyền, bị gió đứt dây thuyền, giạt vào Thanh Lan cảng, quan ở đấy xét thực, đưa trả về nguyên quán…


Năm 1816: Vua Gia Long chính thức chiếm hữu đảo, ra lệnh cắm cờ trên đảo và đo thủy trình.


Năm 1835: Vua Minh Mạng cho xây đền, đặt bia đá, đóng cọc, và trồng cây. Đội Hoàng Sa và Đội Bắc Hải được trao nhiều nhiệm vụ hơn: khai thác, tuần tiểu, thu thuế dân trên đảo và nhiệm vụ biên phòng bảo vệ hai quần đảo. Hai đội này tiếp tục hoạt động cho đến khi người Pháp vào Đông Dương.


Không rõ tài liệu Tầu nói như thế nào về Hoàng Sa, Trường Sa mà nay họ gọi là Tam Sa. Tam Sa là tên do mấy chú Ba ở Bắc Kinh mới đặt hay nó đã có từ lâu trong lịch sử Trung Hoa.


Phục vụ trong chính quyền miền Nam VN một thời gian ở vùng Hà Tiên – Rạch Giá, tôi nhận ra một điều, xứ nầy có nhiều người mà dân Nam Bộ thường gọi đùa là “đầu gà đít vịt”, tức là người Miên lai Tầu. Khu vực địa lý Hà Tiên – Rạch Giá có nhiều người trông như người Miên, hoặc nửa Miên nửa Tầu, mang họ Tầu như họ Phan (Phan Chánh Toul, cảnh sát chế độ cũ), họ Dương (Dương Nganh, tự Xà Rum, hồ sơ trận liệt ghi là cựu bí thư xã Dương Hòa, quận Kiên Lương, Rạch Giá), Dương Yếp, Dương Tu, anh em Dương Bộ Hương, Dương Bộ Hành (cảnh sát chế độ cũ), Quách Thị Hoa, Danh Tăng (giao liên Việt Cộng ấp Hòn Heo, xã Dương Hòa), Châu Ai (nguyên xã trưởng xã Bình Trị, Kiên Lương), Trần Ghét Xe (giao liên Việt Cộng xã Bình Trị). Và nhiều người nữa, tôi không nhớ hết, một ít mang họ Miên như họ Danh, phần đông mang họ Tầu như Phan, Dương, Châu, Trần, Quách và cả Mạc Cửu, (họ Mạc) và Lâm Tấn Phát (họ Lâm, thi sĩ Đông Hồ), v.v…


Tổ tiên họ là ai?


Dĩ nhiên là người Tầu. Nhưng Tầu nào? Tầu Bắc Kinh, Quảng Đông, Quảng Tây, Phúc Kiến hay Hải Nàm.


Người Tầu ở vùng Hà Tiên nổi tiếng nấu cơm gà ngon. Họ có một thứ nước chấm đặc biệt nhưng dấu nghề kỹ lắm. Ở Huế, trước chợ Đông Ba, buổi tối có xe cơm (thố) gà đặc biệt ngon. Ông chủ là người Tầu Hải Nàm. Cơm gà là món ăn của người Tầu Hải Nàm. Vậy có phải tổ tiên những người Tầu “đầu gà đít vịt” ở vùng Hà Tiên là dân cướp biển Hải Nàm, sau khi giải nghệ, không về lai Hải Nàm mà định cư ở đây?


Tôi cũng có một “thắc mắc” nữa! Ở ấp Hòn Chông, xã Bình Trị, có một gia đình Tầu, thỉnh thoảng mới nấu cơm gà do có yêu cầu. Xã trưởng Bình Trị mời cơm gà cho nhân viên Ty Xã Hội Kiên Giang ở nhà ông già Tầu nầy. Tôi được tham dự bữa cơm ấy và chợt để ý hai cô con gái chủ nhà cỡ 15, 17 tuổi có hai bàn tay to quá khổ bình thường. Sao có việc nầy? vì lao động cực nhọc? Không! Để ý, tôi thấy cả gia đình nầy đều có bàn tay to như thế? Sách tướng nói rằng bàn tay to là tướng giết người. Không rõ gia đình nầy có liên hệ tổ tiên gì với những tay cướp biển Hải Nàm ngày xưa trong vùng vịnh Thái Lan không? Điều nầy, chắc phải nhờ các nhà “nhân chủng học” mới trả lời được!


Vùng vịnh Thái Lan, từ thế kỷ 16, 17 đã nổi tiếng là “vùng cướp biển”, quê hương của hải tặc. Bọn cướp biển phần đông là người dân Hải Nàm (dân ở đảo, đi biển giỏi). Khi về già, giải nghệ, họ không về lại Hải Nàm vì nhiều lý do: sợ chính quyền Hải Nàm biết họ là dân cướp biển, vì kinh tế, v.v… Họ định cư ở những vùng quanh vị Thái Lan như miền Tây Nam bộ (Hà Tiên, Rạch Gía, Cà Mâu, Bạc Liêu, Sóc Trăng) ở vùng Kampot, bờ biển Kampuchia và Thái Lan. Họ có nhiều tiền bạc, chôn dấu ở vùng nầy. Câu chuyện “Kho vàng Hòn Tre” (Hòn tre gần Rạch Giá) của Sơn Nam cũng không ngoài cái giàu của bọn cướp biển.


Biết người dân có tiền, Mạc Cửu bèn mở sòng bạc cho mau giàu.




Hà Tiên vốn là đất cũ của Chân Lạp, tục gọi là Mường Khảm, tiếng Tàu gọi là Phương Thành.


Ban đầu có người tên là Mạc Cửu gốc xã Lê Quách, huyện Hải Khang, phủ Lôi Châu, tỉnh Quảng Đông, vào thời Đại Thanh, niên hiệu Khang Hy thứ 19 (1680), nhà Minh mất hẳn (nhưng mãi đến năm Khang Hy thứ 19, vùng Quảng Đông mới bình định xong). Mạc Cửu không khuất phục chính sách buổi đầu của nhà Đại Thanh, mới chừa tóc rồi chạy qua phương Nam, trú tại phủ Nam Vang nước Cao Miên. Ông thấy ở phủ Sài Mạtcủa nước ấy, người Việt, người Trung Hoa, Cao Miên, Đồ Bà (Chà Và) các nước tụ tập mở trường đánh bạc để lấy xâu, gọi là thuế hoa chi, bèn thầu mua thuế ấy, lại còn đào được một hầm bạc nên bỗng trở thành giàu có. Từ đó ông chiêu mộ dân Việt Nam lưu tán ở các xứ Phú Quốc, Lũng Kỳ (hay Trũng Kè, Lũng Cả -Réam), Cần Bột (Cần Vọt - Kampôt), Hương Úc (Vũng Thơm - Kompong Som), Giá Khê (Rạch Giá), Cà Mau lập thành bảy xã thôn.Tương truyền ở đây thường có tiên xuất hiện trên sông, do đó mới đặt tên là Hà Tiên (tiên trên sông).


Họ Mạc nhờ có công mở mang vùng đất Hà Tiên nên mới được chúa Nguyễn phong làm “Khai Quốc Công Thần”.


Sự xuất hiện của người Tầu ở vùng nầy, vùng vịnh Thái Lan tạo ra cho tôi một câu hỏi. Người Tầu đi biển về phương Nam (Đông Hải của ta) và tới vịnh Thái Lan từ lúc nào? Sách sử của ta chỉ nói tới những người “phản Thanh phục Minh” Mạc Cửu, Dương Ngạn Địch, Trần Thắng Tài… thua chạy về phương Nam nhưng không nói gì công việc người Tầu đã từng xác lập chủ quyền của họ trong những vùng biển họ đã tới, đã định cư. Thậm chí như Mạc Cửu, khi đã ổn định xong vùng Hà Tiên, thì đem vùng đất ấy mà dâng cho chúa Nguyễn chứ không dâng cho vua Tầu. Họ di chuyển trên các vùng biển đó, nhưng không màng tới việc “mở mang bờ cõi” ở những hòn đảo ở đó. Vậy thì Hoàng Sa, Trường Sa là của Tầu làm sao được nhỉ?


Người Tầu lục địa có hai việc đáng lo: lãnh thổ rộng, bị xâu xé, chia rẽ là “truyền thống” của người Tầu. Họ lo việc “thống nhất nước Tầu” cũng đã “hụt hơi”, đâu có thời giờ mà nghĩ tới các hòn đảo hoang. Việc đối phó với các cuộc nổi dậy, chống đối, xâm lăng nước Tầu của Tân Cương, Nội Mông, Mãn Châu, Tây Tạng, An Nam thì vua quan Tầu cũng đã “mệt” lắm rồi, hơi súc đâu mà lo dựng bia, đóng đồn ở Hoàng Sa, Trường Sa.


Mãi đến đời nhà Minh, với trường hợp Trịnh Hòa, người ta mới thấy vua Tầu mới lo tới việc phát triển nước Tầu bằng đường biển. Trước Trịnh Hòa và sau đó, ngành hàng hải cũng như hải quân của nước Tầu chẳng có gì đáng kể.


Trịnh Hòa, gốc là người Hồi, quê ở Vân Nam, là thái giám, được Minh Thành Tổ ưu ái vì ông có công trong việc tranh đoạt ngai vàng cho nhà vua. Ông chỉ huy một hạm đội của Tầu tới eo biển Malacca vào thế kỷ thứ 15. Đời Minh Tuyên Tông, Trịnh Hòa thực hiện thêm một chuyến đi nữa. Sau đó, công việc đi biển của Trịnh Hòa chấm dứt.


Theo tài liệu của người Tầu thì Trịnh Hòa đã đi tất nhiều nơi ở Châu Á, châu Phi, Hồng Hải, vịnh Ba Tư… và cả Darwin phía bắc Châu Đại Dương. Với Đài Loan, ông lui tới những 7 lần không rõ để làm gì! Có phải ông ta muốn xác lập quyền hạn của vua Tầu ở đó. Tuy nhiên, trước kia cũng như bây giờ, người Đài Loan vẫn tự gọi họ là người Đài Loan (Taiwanese) chớ không bao giờ nhận họ là người Tầu (Chinese).


Có thể người Tầu chỉ dòm ngó tới những vùng đất rộng, dân đông, nhiều tài nguyên, chớ không thèm ngó ngàng gì tới Hoàng Sa hay Trường Sa, nên họ chẳng cần phải cắm mốc hay dựng bia ở những nơi nầy.


Ngày nay, vì kinh tế phát triển, mà dầu lửa là máu của nền kinh tế hiện đại, nên mới có việc họ diệu võ dương oai để cướp Hoàng Sa, Trường Sa và biển Đông của ta để giành các mỏ dầu lửa ở vùng nầy.


Việc người ngoại quốc lui tới biển Đông, quan hệ với triều đình Huế để xin giao thương hay xâm lăng nước ta, là một chuỗi dài lịch sử quan hệ quốc tế khá phức tạp, giữa nước ta và liên quân xâm lăng Pháp – Y pha Nho, có sự góp tay của các ông cố đạo, hay hành động hung hãn của (Mad) Jack Percival, thuyền trưởng chiến hạm USS. Constitution đến Đà Nẵng để xin triều đình Huế thiết lập giao thương với Mỹ. Trong khi chờ đợi triều đình Huế trả lời, thì Mad Jack nghe lời một giáo dân Việt Nam báo cáo giám mục Lefèvre đang bị bắt giam ở Huế vì tôi giảng đạo trái phép. Mad Jack đã nổi cơn điên – như dân hàng hải đã gọi anh ta là Mad, bắn phá Đà Nẵng, giết chết mấy chục dân thường, làm bị thương một số người khác, bắt một quan lại để làm con tim, nhằm buộc triều đình Huế phải thả giám mục Lefèvre ra, trục xuất khỏi nước ta.


Triều đình Huế lên án hành động của Mad Jack, yêu cầu Mỹ phải xin lỗi. Chính phủ Mỹ đã phái một lãnh sự đến Đà Nẵng để thục hiện việc xin lỗi nầy, nhưng sau đó không đến Huế được thành ra việc không thành.


Đó là mối “quan hệ đầu tiên giữa Mỹ và An – Nam. (Xem thêm “The Red Pony” cùng tác giả trong “Viết Về Huế” tập 3. Văn mới xuất bản.)


4)- Hoàng Sa và Trường Sa là của ai?


Căn cứ trên lý thuyết Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam. Người Việt Nam có thể căn cứ trên tài liệu lịch sử như “Phủ Biên Tạp Lục”, “Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí”, “Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư” để xác định Hoàng Sa, Trường Sa là của nước ta.


Không rõ người Tầu có tài liệu nào nói rằng họ cũng đã đến Hoàng Sa, Trường Sa thực hiện những công việc như tổ tiên chúng ta đã làm. Dù có hay không có, thì người Tầu cũng có thể làm giả tài liệu một cách dễ dàng. Người Tầu rất thiện nghệ và có truyền thống làm hàng giả. Ngày nay có vậy mà xưa cũng không chắc khác gì.


Việc “tranh nhau bằng mồm” thì diễn ra đều đều, không ai chịu thua ai.


Vây nếu khi đưa nhau “đáo tụng đình” ở tòa án quốc tế, chắc chi ai hơn ai, dù tài liệu giả hay thiệt, mà mấy ông tòa ngồi ở cái gọi là tòa án gọi là quốc tế ấy, chắc gì có đủ trình độ để đọc sách chữ Tầu, chữ Việt. Vã lại chắc chi họ không “nghiêng ngữa” giữa các thế lực mạnh, yếu trên trường Quốc tế hiện nay.


Tuy nhiên, người ta có thể căn cứ vào thực tế để phán xét, xác định Hoàng Sa, Trường Sa là của ai. Ngay từ thời Pháp thuộc, như tôi đã kể ở trên, chính quyền thực dân Pháp, tiếp nối công việc của vua chúa ngày trước, cho xây đài khí tượng ở Hoàng Sa, Trường Sa. Đó cũng là cách xác nhận chủ quyền trên thực tế. Sau đó, Pháp đưa đưa lính khố xanh ra đóng đồn ở Hoàng Sa, Trường Sa. Vì vậy, năm 1956, dưới thời Đệ Nhứt Cộng Hòa, khi tổng thống Ngô Đình Diệm cho quân đội đóng quân hẵn hòi ở hai đảo nầy thì nhiều quốc gia phản đối, nhưng không nước nào có hành động quân sự chống đối. Các nước phản đối bằng lời nói suông thì có Tầu Cộng, Đài Loan (danh nghĩa là Trung Hoa Quốc gia), Phi Luật Tân, Brunei, Mã Lai, Thái Lan, v.v… và cả Pháp.


Việc quân đội Việt Nam Cộng Hòa đóng quân ở Hoàng Sa để giữ đảo kéo dài từ năm 1956, đến ngày 19 tháng 1 năm 1974, Trung Cộng dùng vũ lực xâm lăng Hoàng Sa, qua việc “ngó lơ” của các tầu chiến Mỹ thuộc hạm đội 7 hoạt động gần đó.


Do tình hình đánh chiếm Hoàng Sa của Tầu Cộng, thực tế cho thấy khi binh lính của nước An Nam ngày trước, thời các chúa Nguyễn hay các vua triều Nguyễn, và ngay cả thời gian sau nầy, khi quân đội của nước An Nam, như tên gọi ngày xưa, cũng như Việt Nam, như tên gọi sau nầy, chiếm đóng Hoàng Sa, Trường Sa là không gây ra nổ súng, chiến tranh với một quốc gia nào cả, không gây hấn bằng võ lực với ai cả.


Ngược lại, khi Trung Cộng chiếm Hoàng Sa năm 1974, đã gây ra chiến tranh với Nam Việt Nam. Họ đã thắng và miền Nam Việt Nam đã thua. Người ta có thể lý luận như sau:


a)- Trong thực tế, khi một nước đem quân đánh chiếm một vùng đất hay đảo không có dân chúng, không có chính quyền, không có quân đội thì việc làm đó, chưa hẵn là sai, vi phạm luật lệ quốc tế.


b)- Ngược lại, khi Trung Cộng đem chiến thuyền tấn công Hoàng Sa, trên đó đã có quân đội nước khác đang trú đóng, dùng võ lực để cưỡng chiếm lãnh thổ, thì nó có nghĩa rằng Trung Cộng đã âm lăng, sai hoàn toàn.


Chính phủ nước Việt Nam hiện nay, trên nguyên tắc, có thể đưa ra lập luận như trên (a và b) để xác định chủ quyền trên Hoàng Sa và Trường Sa. Hoàng Sa thuộc quyền Việt Nam Cộng Hòa khi bị Trung Cộng xâm chiếm. Tình hình ấy bắt buộc thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phải nại chính quyền Miền Nam Việt Nam (hay nói cách khác là Việt Nam Cộng Hòa) khi muốn nói với quốc tế rằng Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam.


Việc làm nầy của ông Nguyễn Tấn Dũng mang tính chất thực tế lịch sử, không mang tính chất hòa hợp hòa giải giữa hai miền Nam Bắc Việt Nam.


5) Hải ngoại huyết lưu hồng?


Sấm Trạng Trình có câu:


Ô hô thế sự tự bềnh bồng
Nam Bắc hà thời thiết lộ thông
Hồ ần sơn trung Mao tận bạch
Kình ngư hải ngoại huyết lưu hồng ….


Các câu 1, 2 và 3 người ta đã bàn nhiều, kẻ trật người trúng, không nói chắc được. Tuy nhiên, câu 4 “Kình ngư hải ngoại huyết lưu hồng” là câu người ta nghĩ rằng sẽ có đánh nhau lớn ngoài biển đông.


Ở Biển Đông, đánh nhau thì cũng có đánh rồi. Đó là các trận Hoàng Sa, Trường Sa, nhưng có lẽ người ta có thể cho rằng hai trận đánh ấy chưa có đủ “kình ngư”, và “huyết lưu hồng” còn ít chăng?


Vậy thì bao nhiêu mới đủ. Phải đánh nhau lớn hơn? nhiều hơn? Vai trò chính trong một hay nhiều trận đánh lớn sẽ xảy ra dĩ nhiên người Việt khó tránh khỏi. Kẻ thù của người Việt là Tầu Cộng chớ còn ai vô đây. NHưng tại sao phải là 2 nước nầy.


Nhà văn Ngô Thế Vinh, sau chuyến di ngược sông Cửu Long có viết cuốn sách “Cửu Long cạn giòng, Biển Đông dậy sóng.” Có thể ông ta cho rằng nước sông Cửu Long cạn thì sẽ có đánh nhau ngoài Biển Đông.


Hết Tầu nay đến Lào xây đập thủy điện trên sông Cửu Long thì nước sông nầy cạn đi là đương nhiên. Nước sông cạn, nước biển tràn vào, đồng bào sông Cửu Long không tránh khỏi bị nhiễm mặn, làm sao trồng lúa? Ngoài Biển Đông thì Tầu gây bao nhiêu xáo trộn, giành biển, giành cá, giành tài nguyên. Như thế là Việt Nam hai đầu bị ép, liệu có ngồi yên được chăng?


Đời chúng ta sẽ còn thấy chiến tranh Đông Dương xảy ra một lần thứ tư nữa, hay con cháu chúng ta sẽ phải đương đầu với một cuộc chiến tranh chống Tầu, hay Mỹ Tầu bắt tay nhau chia chác nguồn lợi ở Biển Đông, ăn trên đầu trên cổ người dân Việt. Ai có thể đoán trước được tương lai sẽ ra sao?


hoànglonghải
———————————-


Truyện cổ tích: Dã Tràng


Có hai vợ chồng một ông già tên là Dã Tràng. Trong vườn họ có một hang rắn. Thường ngày làm cỏ gần đấy, ông già vẫn thấy có một cặp vợ chồng rắn hổ mang ra vào trong hang.


Một hôm, con rắn chồng bò ra khỏi hang một mình. Ông nhìn vào, thấy rắn vợ nằm cuộn ở trong. Vì mới lột nên mình mẩy của nó yếu ớt không cựa quậy được. Một lúc lâu rắn chồng bò trở về, miệng tha một con nhái đút cho vợ ăn.


Ít lâu sau. Dã Tràng lại thấy rắn vợ bò ra khỏi hang một mình. Lần này rắn chồng đến kỳ lột, nằm im thiêm thiếp, lốt da cũ còn bỏ lại bên hang. Hồi lâu, rắn vợ trở về, theo sau một con rắn đực khác khá lớn. Dã Tràng thấy hai con bò đến cửa hang thì dừng lại rồi quấn lấy nhau như bện dây thừng. Một lát sau, con rắn đực một mình bò vào hang. Dã Tràng biết con rắn đực này toan làm gì rồị Ổng cảm thấy ngứa mắt, muốn trừ bỏ con rắn đó đi để cứu con rắn chồng đang lúc suy nhược. Lúc đó bên mình không có cái gì cả, ông bèn rút một mũi tên nhằm con rắn đực mới đến, bắn ngay một phát. Không ngờ mũi tên lại trúng vào đầu con rắn vợ chết tươi, còn con kia hoảng hồn chạy mất. Dã Tràng nghĩ cũng thương con rắn cái, nhưng trong cái thương có lẫn cả giận, nên ông chán nản bỏ đi về nhà. Từ đó ông không thèm để ý đến hang rắn nữạ Chừng dăm bảy ngày sau, một hôm Dã Tràng nằm võng thuật chuyện vợ chồng con rắn cho vợ nghe và vui miệng, ông kể luôn những việc mình đã thấy và đã làm. Ông kể vừa dứt lời thì bỗng nghe trên máng nhà có tiếng phì phì. Cả hai người hốt hoảng nhìn lên thì thấy có một con rắn hổ mang rất lớn, đuôi quấn lấy xà nhà, đầu vươn gần chỗ ông nằm, miệng nhả một viên ngọc. Ông vừa cầm lấy thì bỗng nghe được tiếng rắn nói:


- Ông là ân nhân mà tôi cứ ngỡ là kẻ thù. Mấy hôm nay tôi đợi ông trên máng này chỉ chực mổ chết để báo thù cho vợ tôi. Nhưng hồi nãy nghe ông kể chuyện rõ ràng, tôi mới biết là lầm. Xin biếu ông viên ngọc nghe nàỵ Đeo nó vào mình thì có thể nghe được mọi tiếng muông chim ở thế gian.


Từ kinh ngạc đến sung sướng, Dã Tràng nhận viên ngọc quý và từ đó không bao giờ rời.


Một hôm, Dã Tràng đang hái rau, tự dưng có một bầy quạ đến đậu ở mấy ngọn cau nói chuyện lao xao. Chúng nó bảo Dã Tràng như thế này: “Ở núi Nam có một con dê bị hổ vồ. Hãy lên đó lấy về mà ăn nhưng nhớ để lòng lại cho chúng tôi với”. Dã Tràng làm theo lời quạ, quả thấy xác một con dê trên núi Nam. Ông xẻo lấy một ít thịt xâu lại xách về. Đến nhà, ông vội mách cho xóm giềng biết mà đi lấy, không quên dặn họ để bộ ruột dê lại cho bầy quạ. Nhưng ông không ngờ người trong xóm nghe tin ấy, đua nhau đi đông quá, thành ra họ lấy tất cả, chẳng chừa một tí gì.


Lũ quạ không thấy ruột dê, cho là Dã Tràng đánh lừa, bèn đổ xô đến vườn ông réo om sòm. Thấy vậy ông biết là người trong xóm đã làm hại mình, không giữ chữ tín với bầy quạ. Ông phân trần mấy lần nhưng bầy quạ không nghe, cứ đứng đó chửi mãi.


Tức mình, ông bèn lấy cung tên ra bắn vào chúng. Chủ ý là để đuổi chúng đi chứ không định giết. Chẳng ngờ bầy quạ thấy vậy cho là ông lấy oán trả ân, liền cắp mũi tên có tên Dã Tràng ở đuôi, tìm dịp báo thù. Lúc bay qua sông, thấy một cái xác chết trôi, đàn quạ bèn đem mũi tên ấy cắm vào yết hầu xác chết. Khi quan sở tại đến làm biên bản, thấy mũi tên, liền đoán Dã Tràng là thủ phạm, sai lính bắt ông, hạ ngục.


Dã Tràng bị bắt bất ngờ, hết sức kêu oan, nhưng mũi tên là một chứng cớ sờ sờ làm cho ông đuối lý, đành chịu chui đầu vào gông. Tuy nhiên, ông vẫn một mực xin quan xét giải ông về kinh để vua phân xử.


Từ đề lao tỉnh, ông bị điệu đi. Dọc đường trời tối, bọn lính dừng lại quán ăn uống và nghỉ ngơi. Dã Tràng cổ bị gông, chân bị xiềng nằm trên đống rơm buồn rầu không ngủ được. Lúc trời gần rạng, ông nghe có một đàn chim sẻ bay ngang đầu nói chuyện với nhau:


- Nhanh lên! Chuyến này sẽ không lo đói nữa mà cũng chả sợ ai đánh đuổi cả.


Một con khác hỏi:


- Của ai mang đến bỏ vương vãi như thế?


Con nọ trả lời:


- Của Vua nước bên kia. Họ toan kéo sang đánh úp bên nàỵ Ngày hôm qua, quân đội giáo mác kéo đi liên miên không ngớt. Nhưng xe thóc vừa sắp đến biên giới thì bị sụp hầm đổ hết. Họ đang trở về lấy thứ khác cho nên chúng ta tha hồ chén.


Nghe đoạn, chờ lúc bọn lính thúc dục lên đường, Dã Tràng bảo họ:


- Xin các ông bẩm lại với quan rằng việc oan uổng và nhỏ mọn, không nên bận tâm, mà giờ đây chỉ nên lo việc quốc gia trọng đại thôi, và còn cấp bách nữa là khác.


Bọn lính tra gạn ông mãi nhưng ông không nói gì thêm, chỉ nài rằng hễ có mặt quan, mình mới tỏ bày rõ ràng.


Khi gặp mấy vị quan đầu tỉnh, Dã Tràng liền cho họ biết rằng Hiến Đế ở phương bắc đã sai tướng cầm quân sang đánh úp nước mình. Hiện họ đang đóng quân đầy ở biên giới, chỉ vì bị sụp hầm, xe lương đổ hết, chưa tấn công được. Bây giờ họ đang vận thêm lương, chờ đầy đủ sẽ vượt cửa ải sang Nam. Bọn quan tỉnh lấy làm lo lắng nhưng cũng cố hỏi ông có dám chắc như vậy không. Dã Tràng chỉ vào đầu mình mà đoan rằng nếu có sai, ông sẽ xin chịu chết. Nhưng nếu lời của ông đúng thì xin bề trên thả ra cho. Ngay lúc đó, những tên quân do thám được tung đi tới tấp mọi ngõ để lấy tin. Và nội ngày hôm sau, Dã Tràng được thả vì lời mách của ông quả không sai và vừa vặn đúng lúc để chuẩn bị đối phó với địch.


Được tha, Dã Tràng đi bộ lần về quê nhà. Bóng chiều vừa ngả, ông mới đến vùng Hồng Hoa. Ông tìm vào nhà người bạn rất thân là Trần Anh nghỉ chân.


Gặp lại bạn cũ, vợ chồng Trần Anh vui mừng khôn xiết. Nghe tin ông bị tra tấn giam cùm và suýt mất đầu, hai vợ chồng rất cảm thương bạn. Thấy bữa ăn tối thết bạn không có gì, Trần Anh xuống bếp bảo vợ:


- Bạn ta đến, lại gặp lúc trong nhà chả có gì ăn. Sẵn có cặp ngỗng, con nó đã khôn, ta làm thịt một con, ngày mai đãi bạn lên đường.


Người vợ bằng lòng nhưng dặn chồng sáng sớm bắt ngỗng và cắt tiết vặt lông giúp mình một tay.


Trong khi hai vợ chồng bàn tính thì cặp ngỗng ở ngoài chuồng nghe được câu chuyện. Ngỗng trống bảo ngỗng mái:


- Mình ơi ! Mình hãy ở lại nuôi con, tôi sẽ đứng sẵn cho chủ nó bắt. Ngỗng mái không nghe, xin chết thay cho chồng. Nhưng ngỗng trống nhất quyết hy sinh, nên chạy ra sân từ giã đàn con:


- Con ơi ! Các con ở lại với mẹ nghe. Cha sẽ không bao giờ gặp lại các con nữa.


Song ngỗng mái vẫn lạch bạch chạy theo, đòi chết thay chồng cho bằng được.


Lúc bấy giờ Dã Tràng nằm trên bộ ván đặt kề cửa sổ nên nghe được tiếng ngỗng than thở. Ông bỗng thấy thương con vật vô tội chỉ vì mình mà phải lìa đàn con bé bỏng. Ông toan nói trước với bạn, nhưng thấy bất tiện. Ông đành nghe ngóng ở chỗ chuồng ngỗng chờ lúc bạn ra bắt thì sẽ cản lại.


Suốt đêm hôm đó tuy mệt mà ông không dám ngủ. Quả nhiên, vào khoảng canh tư, Trần Anh thức dậy bước ra chuồng. Ngỗng trống xua ngỗng mái chạy rồi vươn cổ để cho bắt. Trần Anh sắp cắt cổ ngỗng thì Dã Tràng đã lật đật chạy xuống bếp nắm lấy đao. Ông nói:


- Xin bạn thả nó ra. Tính tôi không hay sát sinh. Tình thân của đôi ta lọ phải cỗ bàn mới thân. Nếu bạn giết nó thì tôi lập tức đi khỏi chỗ nàỵ


Thấy bạn có vẻ quả quyết, Trần Anh đành thả ngỗng ra, rồi giục vợ chạy đi mua tép về đãi bạn.
Cơm nước xong, Dã Tràng từ giã bạn lên đường về nhà. Đến ao, ông đã thấy vợ chồng ngỗng cùng với bầy con đứng chực ở đấỵ Ngỗng đực tặng Dã Tràng một viên ngọc và nói:


- Đa tạ ân nhân cứu mạng. Không biết lấy gì báo đền, chúng tôi xin tặng người viên ngọc này, mang nó vào người có thể đi được dưới nước dễ dàng không khác gì trên bộ. Nếu đem ngọc này xuống nước mà khoắng thì sẽ rung động đến tận đáy biển.


Ngỗng lại nói tiếp:


- Còn như con tép là vật đã thế mạng chúng tôi thì từ nay, dòng dõi chúng tôi sẽ xin chừa tép ra không ăn, để tỏ lòng nhớ ơn !


Dã Tràng không ngờ có sự báo đáp quá hậu như thế, sung sướng nhận lấy ngọc rồi về.


Khi đến bờ sông, Dã Tràng muốn thử xem công hiệu của viên ngọc mới, liền cứ để nguyên áo quần đi xuống nước. Thì lạ thay, nước rẽ ra thành một lối cho ông đi thẳng xuống đáy sông. Ông dạo cảnh hồi lâu rồi cầm viên ngọc khoắng vào nước nhiều lần để thử xem thế nào.


Hôm đó, Long Vương và các triều thần đang hội họp ở thủy phủ bỗng thấy nhà cửa lâu đài và mọi kiến trúc khác bỗng nhiên rung động, cơ hồ muốn đổ. Ai nấy đều nháo nhác không hiểu duyên cớ. Vua lập tức truyền cho bộ hạ đi dò la sự tình.


Bộ hạ Long Vương theo con đường sóng ngầm lọt vào cửa sông thì thấy Dã Tràng đang cầm ngọc khoắng vào nước. Mỗi lần khoắng như thế, họ cảm thấu xiêu người nhức óc. Tuy biết đích là thủ phạm, họ cũng không dám làm gì, chỉ tiến đến dùng lời nói khéo mời ông xuống chơi thủy phủ.


Gặp Long Vương, Dã Tràng cho biết đó là mình chỉ mới làm thử để xem phép có hiệu nghiệm chăng. Long Vương và triều thần nghe nói, ai nấy đều xanh mặt. Nếu hắn làm thật thì thế giới thủy phủ sẽ còn gì nữa ! Vì thế, Long Vương đãi Dã Tràng rất hậu. Ông muốn gì có nấy. Cho đến lúc ông ra về, Long Vương còn đem vàng bạc tống tiễn rất nhiều để mong nể mặt.


Dã Tràng lên khỏi nước có bộ hạ của Long Vương tiễn chân về tới tận nhà mới trở lạị Bà con xóm giềng thấy ông đã không việc gì mà lại trở nên giàu có thì ai cũng lấy làm mừng cho ông. Từ đó Dã Tràng rất quý hai viên ngọc. Ông may một cái túi đựng chúng và luôn luôn đeo ở cổ.


Một hôm Dã Tràng đi bộ nửa ngày đường đến nhà một người bà con ăn giỗ. Lúc đến nơi Dã Tràng sờ lên cổ giật mình mới nhớ ra vì vội vàng quá nên ông đã bỏ quên mất túi ngọc ở nhà. Ông thấy không thể nào an tâm ngồi ăn được. Mọi người đều lấy làm ngạc nhiên thấy ông vừa chân ướt chân ráo đến nơi đã vội cáo từ về ngay.


Nhưng khi về đến nhà, ông tìm mãi vẫn không thấy túi ngọc đâu cả. Ông rụng rời cả ngườị Đi tìm vợ, vợ cũng không thấy nốt. Nóng ruột, ông lục lọi khắp nơi. Cuối cùng ông bắt được một mảnh giấy do vợ ông viết để lại gài ở chỗ treo áọ Trong đó, vợ ông nói rằng có người của Long Vương lên bảo cho biết hễ ai bắt được túi ngọc đưa xuống dâng Long Vương thì sẽ được phong làm hoàng hậu. Bởi vậy bà ta đã trộm phép ông, đưa túi ngọc xuống thủy phủ rồi, không nên tìm làm gì cho mệt. Đọc xong thư vợ. Dã Tràng ngất đi. Ông không ngờ vợ ông lại có thể như thế được. Ông cũng không ngờ âm mưu của Long Vương thâm độc đến nước ấỵ Nghĩ đến hai thứ bảo vật, ông tức điên ruột. Sau cùng, ông dự tính chở cát lấp biển thành một con đường đi xuống thủy phủ để lấy lại túi ngọc vì ông còn nhớ cả đường lối đến cung điện của Long Vương. Mặc dầu mọi người can ngăn, ông cũng không nghe, bèn dọn nhà ra bờ biển làm công việc đó. Ngày ngày ông xe cát chở đến bờ quyết lấp cho bằng được. Cho tận đến chết, Dã Tràng vẫn không chịu bỏ dở công việc. Chết rồi ông hóa thành con còng còng hay cũng gọi là con Dã Tràng ngày ngày xe cát để lấp biển. Tục ngữ có câu:


Dã Tràng xe cát biển Đông.
Nhọc lòng mà chẳng nên công cán gì.


Hay là:


Công Dã Tràng hàng ngày xe cát,
Sóng biển dồn tan tác còn chi.

Hay là:


Còng còng dại lắm không khôn.
Luống công xe cát sóng dồn lại tan.


Người ta nói ngày nay loài ngỗng sở dĩ không bao giờ ăn tép là vì chúng nó nhớ ơn loài tép đã thế mạng cho tổ tiên mình ngày xưa. Họ còn nói loài ngỗng có một cái mào trắng trên đầu là dấu hiệu để tang cho Dã Tràng để nhớ ơn cứu mạng.