văn hữu vườn tao ngộ

Nơi lưu trữ tác phẩm của PBTD và thân hữu. Liên lạc: phanbathuyduong@gmail.com

Sunday, December 16, 2012

Trần Văn Nam * Văn chương phản ánh và ký thác

 

Văn chương phản ánh ở những truyện dài

Văn chương ký thác ở những tập thơ


Một đất nước đang vận động cũng như một cơ thể đang hoạt động, biết bao nhiêu phức tạp chứa đựng ở trong đó. Muốn phản ánh cơ chế sinh hoạt này thì không thể chỉ dăm ba điều phác họa, dăm ba nét tượng trưng, dăm ba dáng biểu hiện, mà phải là những công trình đồ sộ.
Về văn chương thì tiểu thuyết hay truyện thật dài là hình thức có thể chuyển tải nội dung với muôn hình vạn trạng của cơ chế nhà nước quốc gia. Không thể là truyện ngắn, truyện vừa; thơ lại càng nên đứng ở vị trí một vài điểm xuyết mơ hồ xa xôi của mình. Nếu có thơ hiện thực thì chỉ hiện thực ở một điểm tĩnh mà thôi, làm thế nào gói trọn điểm động của xã hội trong một bài thơ hay một thi phẩm. Tiểu thuyết đồ sộ hay truyện thật dài đảm trách công việc này mới kham nổi, thậm chí một cuốn còn chưa đủ, phải là một bộ trường thiên tiểu thuyết. Lý tưởng là nhiều tác gia với nhiều bộ trường thiên trong cùng một thời, bởi vì một tác gia thì chỉ đào sâu khía cạnh nào đó của xã hội đương thời mà thôi. Ví dụ cụ thể như ai cũng biết xã hội Việt Nam từ năm 1975 trở đi dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, trong đó có những thời kỳ bao cấp rồi thời kỳ kinh tế thị trường, thời kỳ làm ăn tập thể rồi thời kỳ cá thể kinh doanh. Là những người sống trong thời cuộc dù ở hải ngoại, chỉ biết những điều thông thường qua mắt thấy tai nghe, qua thông tin của báo chí; nghĩa là không phải những chuyên gia xã hội hay chuyên gia kinh tế, nhưng ta cũng có thể đoán biết bao mâu thuẫn ở trong nước giữa những người kiên trì khuynh hướng cũ và những người theo hướng đổi mới, biết bao lệch lạc đúng hay không đúng khi thi hành, biết bao lần mò kinh nghiệm và sửa sai. Không gì rõ hơn những điều dằn co này, khi ta chỉ là người sống nơi hải ngoại, là hãy đi vào những cuốn truyện dài do người trong nước viết ra. Biết qua những mẩu tin ngắn về thời cuộc trong nước thì chỉ biết những lốm đốm, không biết như một câu chuyện. Chẳng hạn như khi đọc tin tức loại thủy cầm như vịt nuôi là mầm mống chứa vi khuẩn cúm gia cầm: vịt không phát bệnh nhưng đi gieo rắc bệnh cho gà và các giống chim trời, thêm điều khó khắc phục là thói quen thả vịt đi ăn khắp các cánh đồng ở Việt Nam. Tin tức như vậy chỉ là tin có một chút về y tế sinh vật học, một chút về xã hội tập quán. Không bằng đọc truyện “Cánh đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư, qua đó ta biết tập quán rày đâu mai đó của những người chăn vịt giang hồ thường lùa chúng đi qua cánh đồng này đến cánh đồng khác, thậm chí đem cả vợ con sống trong chiếc ghe xuồng lần theo những sông rạch xuyên suốt các cánh đồng. Con cái không thể đi học, vợ chỉ là vợ hờ chấp vá sau bi kịch gia đình với người vợ đầu tiên. Bối cảnh quạnh hiu, những đời người buồn bã. Không hiếm những văn gia xưa đã làm nên những áng văn bất hủ lấy bối cảnh ở những cõi miền quạnh hiu, nhưng quạnh hiu mà có tính chất siêu hình nên thơ như sa mạc với trăng sao của nhà văn Pháp Saint-Exupéry, hoặc đại dương thần bí của nhà văn Mỹ Herman Melville; ít có ai lấy bối cảnh trơ trọi của những cánh đồng chơ vơ cuống rạ như Nguyễn Ngọc Tư. Vậy mà nhà văn này đã viết nên một tác phẩm hay trên vùng đất tưởng chừng không có gì thành truyện. Tin tức khác với câu chuyện là như vậy, nhưng đây mới chỉ là truyện ngắn, chưa phải tiểu thuyết đồ sộ. Truyện dài khá lớn lao như “Mảnh Đất Lắm Người Nhiều Ma” của nhà văn Nguyễn Khắc Trường, và “Chuyện Tình Trên Dòng Kinh Xáng” của nhà văn Nguyễn Hồ mới ghi nhận được bộ mặt xã hội đang trăn trở, đang chuyển động, của một đất nước đi từ xã hội chủ nghĩa đến xã hội kinh tế thị trường nhưng có định hướng chỉ đạo của Đảng đương quyền. Kể như thuộc phía bảo thủ kiên trì với thể chế, truyện dài của nhà văn Nguyễn Khắc Trường sự thật không phải trăn trở về chế độ xã hội chủ nghĩa, mà trăn trở về những con người bản chất xưa đã lọt vào Đảng và chính quyền như Chủ tịch xã làng Giếng Chùa, ông Vũ Đình Phúc; như Bí Thư Đảng Bộ xã, ông Trịnh Bá Thủ. Truyện dài này rõ ràng có khuynh hướng trở về quy chế Hợp Tác Xã làm ăn tập thể, trở về Cải Cách Ruộng Đất trước thời kỳ Khoán Đất cho nông dân làm ăn cá thể. Đất lắm người có ý nói xã hội nhiều chuyện do sự tranh chấp của hai dòng họ Vũ và Trịnh, tranh chấp dòng họ mà theo tác giả thì đó là biểu hiện dấu vết của thời kỳ phong kiến còn tồn đọng. Đất lắm ma có ý nói con người còn nặng đầu óc duy tâm tin chuyện dị đoan cúng bái của làng Giếng Chùa sau bao nhiêu năm sống dươí chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa kể từ năm 1954 cho đến nay. Tóm tắt truyện như sau: Mở đầu truyện là hôn lễ được tổ chức linh đình cho chú rể nhà họ Vũ và cô dâu nhà họ Trịnh. Việc tác hợp cho cô dâu Đào và chú rể Tùng là một kỳ công lập nên tại làng Giếng Chùa, vì hai họ Vũ và Trịnh có mối hiềm khích tranh chấp từ lâu năm tại làng này, mặc dù đây là đất Bắc đã sống dưới chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa ít nhất là từ năm 1954. Bối cảnh ở Miền Bắc đã lâu năm theo Xã Hội Chủ Nghĩa, làng Giếng Chùa; và thời gian ở vào thời kỳ Đổi Mới trong thập niên 1980, lúc bắt đầu có chính sách chia ruộng khoán cho nông dân làm ăn cá thể, bãi bỏ chính sách Cải Cách Ruộng Đất làm ăn tập thể có từ đầu thập niên 1950. Người người xôn xao trở lại bản tính tư hữu, muốn có đất ruộng làm của riêng. Có anh chỉ tối ngày lân la với rượu thịt như chú Quyềnh cũng đòi được chia ruộng. Người chuyên nghề hớt tóc như chú Nghênh cũng đòi được chia ruộng. Bưởi là học sinh đang đi học cũng được cha trù tính cưới vợ cho đôi trẻ thành một hộ riêng để được chia ruộng. Tý và Hợi là đôi vợ chồng định đưa nhau ly dị bây giờ lại muốn hòa giải, một phần do họ muốn làm lành với nhau, một phần vì có thành gia đình thì mới đựơc nhiều ruộng hơn là phải bị chia đôi. Tộc trưởng dòng họ Trịnh, ông Trịnh Bá Hàm, cha của Bưởi, là người đầy mưu tính, muốn thâu tóm thật nhiều ruộng vào tay mình, gạ gẫm mua ruộng của những người chẳng thiết tha gì với canh tác như Quyềnh và Nghênh. Họ Trịnh làng Giếng Chùa có mối hiềm khích lâu năm với họ Vũ, có thể đã bắt nguồn từ đời trước. Cụ Cố nhà họ Vũ kể rằng khi mà họ Vũ đã lập nghiệp qua nhiều đời tại Giếng Chùa thì họ Trịnh mới đến, và họ Trịnh khi đến thì làm thuê làm mướn ở trong làng. Họ Trịnh thì tự hào đến nay đã có nhiều đảng viên họ Trịnh, có thể chi phối các vụ bầu cử vào Ủy ban Nhân Dân Xã và Huyện. Cụ Cố họ Vũ có bệnh sắp gần đất xa trời, vậy mà lo lắng bận tâm quá lắm vào việc đòi chia ruộng đất cho dòng họ Vũ, sợ họ Trịnh thâu tóm nhiều quyền lợi. Đang có chức quyền tại làng Giếng Chùa hiện tại thuộc họ Vũ có Vũ Đình Phúc nắm chức Chủ Tịch Xã, còn họ Trịnh có Bí Thư Đảng Trịnh Bá Thủ. Hai ông này chung mang những điểm giống nhau như đều là đảng viên, đều bề ngoài tử tế với nhau mà bên trong lắm mưu ma chước quỷ hại nhau, và đều tin dị đoan do thầy cúng Thống Biệu bày đặt lắm trò. Để củng cố cho tính Đảng nên tác giả chỉ phê phán những đảng viên giả hiệu như Phúc và Thủ mà thôi, trong khi làm nổi bật những đảng viên thật như Đào, con gái của Trịnh Bá Hàm; và Tùng, cháu của Vũ Đình Phúc. Tùng đã đi bộ đội bốn năm, bây giờ phục viên. Mẹ Tùng muốn con lấy vợ, lý do chính cũng để được chia ruộng, nhưng Tùng thì muốn lên học Đại Học để thành kỹ sư nông nghiệp. Phúc cũng khuyên Tùng nên lấy vợ, tương lai có thể là Chủ Tịch Xã; còn kỹ sư chỉ là người làm công chẳng chức vị chính quyền gì, như vậy bỏ lỡ dịp củng cố dòng họ Vũ làng Giếng Chùa. Tùng và Đào yêu nhau trong nghịch cảnh hai dòng họ tranh chấp đó. Ông Hàm làm sao có thể nhận một con rể thuộc dòng họ Vũ. Bí Thư Đảng và Chủ Tịch Xã của hai họ này cứ tìm cách phá nhau. Công an Xã tên Cao thuộc dòng họ Trịnh chỉ bị Tùng xô nhẹ xuống ruộng, vậy là Cao lấy giấy chứng thương thưa kiện lên huyện. Chủ Tịch Xã Vũ Đình Phúc biết chuyện Quyềnh bán ruộng cho ông Hàm, vậy là dịp tốt để ông bày cho Quyềnh làm đơn tố cáo ông Hàm phá hoại chính sách chia ruộng khoán. Thợ hớt tóc Nghênh sợ, đến nhà ông Hàm xin chuộc lại ruộng, vậy mà ông Hàm vẫn không chịu, hẳn là đã dựa vào một thế lực nào đó mới dám làm chuyện phi pháp trái với chính sách nhà nước. Đây là vài ví dụ điển hình về những mưu chước lớn nhỏ để phá uy tín nhau giữa hai họ Trịnh và Vũ. Toàn tập truyện chỉ xoay quanh các vụ tranh chấp này, gần như là những tranh chấp nhỏ nhặt chỉ để phá uy tín lẫn nhau, không đưa tới những hãm hại trầm trọng, lớn nhất là vụ ông Hàm phải đi tù vài ngày. Phía ưa tranh chấp thuộc họ Trịnh gồm có tộc trưởng Trịnh Bá Hàm, Bí Thư Xã Trịnh Bá Thủ, Công an xã Cao. Phía ưa tranh chấp thuộc họ Vũ có Cụ Cố, Chủ Tịch Xã Vũ Đình Phúc, chuyên viên bảo trì máy nông nghiệp Tính. Nhân vật với cá tính nổi bật là Chu Văn Quyềnh, gần giống như nhân vật Chí Phèo của nhà văn Nam Cao; tuy là người tối ngày la cà lui tới những nơi rượu thịt, say xưa, ăn nói bừa bãi, dễ bị phục rượu để xui khiến làm việc bậy khi thì do họ Trịnh, khi thì do họ Vũ; nhưng bản chất thật thà tốt bụng; cuối cùng chỉ muốn làm người tử tế, và đã được như ý với một mái ấm gia đình. Cốt truyện chỉ xoay quanh những vụ tranh chấp nên không nhiều khúc mắc, gây cấn. Tuy nhiên có vài biến cố khá hấp dẫn như vụ lường gạt góp tiền mở cửa hàng may mặc và đào tạo thợ may mặc, làm ăn lớn theo hướng kinh tế thị trường của Tuyết Trinh, vợ hờ của Bưởi. Tuyết Trinh giả đò trả tiền lời thật hậu cho vài người, mọi người tin theo vì thấy cơ sở đã được bày biện quy mô trong xã, đua nhau cho Tuyết Trinh vay tiền khuếch đại cửa hàng, trong số có cả ông Hàm đưa cả sổ tiết kiệm ở Ngân Hàng, cuối cùng khi gồm thâu được hai trăm triệu đồng thì Tuyết Trinh cuốn gói xa bay, nhưng rồi cũng bị bắt và số tiền được hoàn trả cho các chủ nợ. Biến cố này là dịp tốt tác giả thu lấy để cảnh giác hướng đổi mới, phê phán đó là một trong nhiều tệ nạn thời kinh tế thị trường. Một dịp để phê phán thời ấy nữa là việc mở quán bán bia hơi gây ồn ào và thâu tiền đến quán xem Video của Tám Râu, một người nhờ đi vùng kinh tế mới và trúng mối sau khi làm thợ khai thác quặng mỏ mà có nhiều tiền; và trở về Giếng Chùa làm xáo trộn thôn dã với tệ nạn tụ tập trai làng chè chén. Biến cố đáng kể thứ hai là vụ đào mồ để ếm bùa do thầy cúng Thống Biệu vấn kế cho Ông Hàm để hóa giải xui xẻo do mộ Cụ Cố nhà họ Vũ trực chiếu mộ Cụ Tứ Đại nhà họ Trịnh. Kẻ bị phục rượu cho no nê rượu thịt để làm việc đó không ai khác chú Quyềnh. May nhờ vợ của chú, chị Thoa, đi báo tin cho ông Phúc hay; thế là một cuộc vay bắt quả tang có công an làm biên bản xảy ra, và ông Hàm phải bị tạm giữ chờ ngày ra tòa lãnh án. Đó là một thắng lớn để hạ uy tín nhà họ Trịnh. Không chịu thua, ông Thủ bày mưu cho bà Hàm đi cầu xin Chủ Tịch Xã Phúc bãi nại vụ thưa kiện này. Mưu như sau: ông Thủ biết rằng thuở xưa bà Son, vợ ông Hàm hiện nay, vốn là người tình của ông Phúc. Bà Son bị cha gả ép cho ông Hàm để trừ nợ, và ông Phúc được người chị của bà Son giúp (bằng cách trao chìa khóa cho ông Phúc đến giải thoát cho bà Son bị cấm cố tại một nơi để chờ ngày tổ chức đám cưới gả bán); giúp hai người trốn đi khỏi làng; nhưng ông Phúc ngần ngừ không dám vì sợ tai tiếng cho dòng họ Vũ. Trở lại hiện tại, việc ông Hàm bày mưu cho bà Son và Ông Phúc gặp nhau ở bến sông vắng vào ban đêm, ngay chính nơi hai người thường hẹn hò thuở xưa. Bà Son không dè âm mưu của ông Thủ, ngay tình chỉ mong cầu xin bãi nại vụ thưa kiện chồng bà. Vậy là ông Phúc bị trúng bẫy, bị bắt quả tang có công an Cao đi theo làm chứng ông đang hẹn hò với người tình xưa mà nay là đàn bà đã có chồng. Ông Hàm được ra khỏi tù, chuyện hẹn hò được giữ kín, nhưng Ông Phúc bị ông Thủ khống chế vì không muốn vụ này tung ra khắp làng xóm. Ngoài hai biến cố khá hấp dẫn đã lược qua như trên, còn có các biến cố nhỏ như phe ông Phúc ủng hộ việc lấp một phần ao chùa để làm mặt bằng xây dựng Tổ Dịch Vụ Cơ Khí, trong khi phe ông Hàm chống đối bằng cách cho Thống Biệu đi phao tin những câu chuyện rùng rợn về ao thiêng làng Giếng Chùa. Tác giả làm đậm nét vùng đất lắm ma, lắm mê tín dị đoan này, trong các trang phê phán việc bày đặt lễ Cúng Ao Bà để quyên tiền do Thống Biệu lợi dụng lòng tin của dân làng. Tác giả có khuynh hướng muốn trở lại đời sống tập thể của Hợp Tác Xã, làm nổi bật vai trò của chủ nhiệm hợp tác xã Vũ Đình Tùng (được bầu sau khi cùng với Đào đi lên Huyện dự môt khóa huấn luyện cán bộ, và Đào thì được bầu làm Phó Chủ Tịch Xã). Và tác giả làm đáng chê đáng trách những người muốn làm ăn cá thể, không chịu vào Hợp Tác Xã nông cụ, chỉ vì bất mãn như Tính (chuyên về máy bom nước và máy xay sát lúa) và Ngũ (chuyên về lò rèn). Nhìn toàn thể thì tập truyện này với ý hướng quay về chủ nghĩa xã hội không xét lại; gồm có sự phê phán chính sách khoán ruộng dễ bị lợi dụng do phát sinh tư hữu; phê phán kinh tế thị trường phát sinh những người lường gạt (như vụ Tuyết Trinh), và đem lại tệ nạn xã hội (như việc mở quán bia hơi); phê phán đảng viên giả hiệu lọt vào chính quyền (như ông Phúc ông Thủ); phê phán lối sống duy tâm đưa tới mê tín dị đoan (như Thống Biệu). Vậy đây là tác phẩm có tính cách trăn trở, không thiện cảm thời kỳ đổi mới theo hướng kinh tế thị trường. Tác giả vạch ra viễn tượng những đảng viên thực sự như Đào và Tùng sẽ xóa bỏ tàn tích tranh chấp dòng họ: thể hiện viễn tượng này với một lễ cưới thực ra chưa được mọi người trong hai họ đồng lòng (ông Hàm từng tuyên bố không thể nào chấp nhận một con rể dòng họ Vũ). Đám cưới có được là do sự quyết liệt của mẹ Đào bỏ đi mất tích (*) và tuyên bố chỉ trở về khi đám cưới của Tùng và Đào được tác hợp... Những vấn đề được nhào nặn để thành hình truyện dài “Mảnh Đất Lắm Người Nhiều Ma” của tác giả Nguyễn Khắc Trường toàn là những vấn đề trọng đại của Việt Nam hiện đaị: Xã hội chủ nghĩa, Biểu hiện phong kiến, Cải cách ruộng đất, Hợp Tác xã, Thời kỳ đổi mới, Chính sách khoán ruộng, Kinh tế thị trường, Kinh doanh cá thể, Bảo quản môi trường, Trùng tu di tích cổ, Mê tín dị đoan... Tất cả là những trăn trở, xét lại nên hay không nên, và tác giả Nguyễn Khắc Trường nghiêng về khuynh hướng trở lại chính sách làm ăn tập thể.                         
     
Không phải trở lại nguyên si thời bao cấp mà hóa giải ưu khuyết điểm, nhà văn Nguyễn Hồ trong tác phẩm “Chuyện Tình Trên Dòng Kinh Xáng” cũng trăn trở những áp dụng xã hội chủ nghĩa sau năm 1975 ở trong Nam, trăn trở những vấn đề như đi vùng kinh tế mới; tài năng cá nhân bên trên phân biệt tư sản hay nông dân vô sản; đầu cơ trục lợi trong mở mang phát triển ngành du lịch; cải đổi tâm trí thích bay nhảy an nhàn hơn là vào khuôn khổ; tệ nạn xã hội và tàn hại môi trường do tự do kinh doanh. Đây là chuyện của bốn nhân vật cùng ở một chiến tuyến vùng khu chiến trước 1975, ba người thuộc xã đội du kích trước đây là Năm Cải, Ba Thợ, Mười Phải; còn Tư Hơn là người thuộc thành phần  tư sản nhưng song thân có nhiều công sức đóng góp tạo cơ sở ẩn núp và kinh tế cho Mặt Trận Giải Phóng. Ngay sau năm 1975, Năm Cải là Trưởng ban cải tạo xã Kinh Xáng. Mặc dù cha mẹ chị Tư Hơn có nhiều công đóng góp trong cuộc chiến, nhưng bây giờ bị xếp vào thành phần tư sản và được yêu cầu chuyển đổi cơ sở nhà máy xay lúa và tiệm hớt tóc khá lớn của họ thành các tổ hợp Hợp Tác Xã, ngoài ra còn là thành phần phải đi vùng kinh tế mới. Riêng Tư Hơn thì được ân huệ ở lại xã Kinh Xáng để làm việc trong cơ quan, nhưng chị từ chối, nêu lý do cần phải đi theo săn sóc cha mẹ già nơi vùng kinh tế mới An Đồng. Chị Tư Hơn và Ông Ba Thợ vốn là hai người tình từ hồi còn chiến tranh. Ba Thợ sau năm 1975 thành thợ hớt mà chủ nhân là chị Tư Hơn, điều này gây mặc cảm dày vò Ba Thợ vốn là xã đội chiến đấu đầy tự hào, từ lý do đó sinh tật ưa uống rượu tiêu sầu. Vào lúc này, chị Ba Bay vốn là người làm công trong nhà máy xay lúa của cha mẹ Tư Hơn, bây giờ thành chủ nhiệm Hợp Tác Xã nhà máy xay lúa, và thường ra tay săn sóc khi Ba Thợ say rượu, lần hồi hai người gần nhau sau khi Tư Hơn đã đi vùng kinh tế mới. Năm Cải rất thiện cảm với những người thuộc thành phần nông dân vô sản, cất nhắc cho họ tiến thân. Đám cưới tác hợp cho Ba Thợ và Ba Bay thật linh đình, thành tựu nhờ sự giúp đỡ của Năm Cải. Do đó, Tư Hơn nhận lấy chồng là một lực điền đi theo gia đình chị về vùng kinh tế mới An Đồng. Anh chồng này chỉ là nhân vật mờ nhạt, không thấy tác giả đề cập đến nhiều... Sau một thời gian cải tạo xã Kinh Xáng đi vào lối sống tập thể, Năm Cải được chuyển công tác lên thành phố, học đại học và đậu tiến sĩ kinh tế; tính ra đã xa cách Kinh Xáng tới mười năm. Trong vòng mười năm này, có khoảng thời gian đổi mới theo hướng kinh tế thị trường, trở lại cách làm ăn cạnh tranh cá thể, Xã Kinh Xáng cũng trong vòng xoay chiều biến đổi. Nên khi cùng con gái vốn là nhà báo trở về thăm Kinh Xáng, Năm Cải thấy nhiều sự thay đổi, đảo lộn những điều Năm Cải đã cải tạo trước đây. Mười Phải vẫn là Chủ Tịch Xã, nhưng Tổ Hợp Hớt Tóc không còn, Hợp Tác Xã Nhà Máy Xay Lúa thành của tư nhân. Ba Thợ không còn là thợ hớt tóc của tổ hợp mà là thợ hớt tóc dạo với cây đàn và giọng ca tài tử ngao du khắp thôn xóm. Chị Ba Bay cũng không còn là chủ nhiệm Hợp Tác Xã, lui về sống nơi mấy công vườn, và đã có rất nhiều con với Ba Thợ. Chủ nhân tiệm hớt tóc phát đạt và nhà máy xay lúa tấp nập không ai khác, chính chị Tư Hơn thuở xưa. Nguyên là sau khi lên vùng kinh tế mới, cha của Tư Hơn vốn là nhà kinh doanh nhìn rộng thấy xa, biết rằng miền đất phèn An Đồng nên mở rộng thành vùng trồng khóm xen kẽ với trồng xoài hơn là trồng lúa như các người khác đang đồng cảnh. Và gia đình này đã thu hoạch lớn, chỉ trong vòng tám năm mở mang thành cơ sở lớn, thu hút bao nhiêu người thất bại nơi đây có việc làm lương hậu, thành công nhân đồn điền và xưởng đóng hộp xuất cảng khóm. Và khi có chính sách đổi mới, Tư Hơn trở về xã Kinh Xáng mua lại và phát triển lớn hơn tiệm hớt tóc và nhà máy xay lúa xưa, mà lúc bấy giờ cả hai nơi đều sa sút dưới sự quản lý của Ba Bay va Ba Thợ: một người thì không biết làm (bê trễ, không bảo trì máy móc, không dự trù điện cúp nên có bữa làm bữa nghỉ); một người thì không thích làm (chỉ thích uống rượu và đàn ca tài tử, lại còn có khi không chịu hớt tóc cho lính chế độ cũ dù nay họ đều là thường dân, làm mất một số khách đáng kể). Tiệm hớt tóc và nhà máy xay lúa thâu nhận vài người con của Ba Thợ, do nghĩ đến tình cũ nghĩa xưa mà Tư Hơn giúp đỡ. Nhưng Kinh Xáng cũng phơi bày ra một bộ mặt tiêu cực do hậu quả của tự do kinh doanh như việc mở quán bán thịt chim cho khách ăn nhậu món lạ, thu hút những người đi đánh bẫy chim kiếm sống làm tan tác môi trường sinh thái, thu hút càng ngày càng nhiều đám thanh niên say xưa. Trẻ sớm đi bán báo và bán giấy xổ số, ít thì giờ đến trường. Đường phố xã Kinh Xáng lác đác những bóng hồng về đây kiếm sống, kêu gọi níu kéo đàn ông làm xáo trộn nhiều gia đình ở chốn trước đây là thôn dã... Với kiến thức tiến sĩ kinh tế, Năm Cải trở về xã Kinh Xáng với kế hoạch xây dựng nơi đây thành Khu Du Lịch Sinh Thái. Đồ án đầu mới thảo ra nhưng đã bị tiết lộ làm cho nhiều người khốn đốn vì vội đi vay nợ ngân hàng, vội vàng phá nhà cũ để chuẩn bị xây nhà hàng, hoặc xây bến tàu đón khách du lịch, hoặc xây mặt bằng bên kia sông để di dời cơ sở hiện có nơi đây với ý định dành nơi đây dựng lên nhà lầu; vì tin tức phao đồn sẽ xây dựng phố tối tân cho du lịch sinh thái chính nơi đang là phố cũ Kinh Xáng. Trong số có Tư Hơn. Nhưng đồ án đầu thay đổi thành đồ án thứ hai: thay vì xây dựng phố mới ngay chính nơi phố cũ thì bây giờ xây dựng phố mới nơi đang là vườn tược. Lại phao đồn vì bị tiết lộ. Nhiều người trên thành phố đánh hơi đi mua đất đầu cơ, vì đoán biết các khu vườn sẽ xây thành phố xá. Mấy công đất của Ba Thợ nằm lọt vào khu xây dựng. Đó cũng do kế hoạch của Năm Cải muốn gúp đỡ thành phần nông dân trở nên giàu nhờ bán đất. Ba Thợ trúng mối bán đất, xây nhà mới thành một biệt thự khá lớn với nhiều tiện nghi văn minh; các con tự ý nghĩ việc tại nhà máy xay lúa; Ba Thợ cũng thôi nghề hớt tóc dạo. Có lần họ mướn tàu neo đậu tận Kinh Xáng cho cả gia đình lên đi du ngoạn Suối Tiên Sài Gòn; hưởng các thú vui chốn thành đô; Ba Bay và con gái sắm sanh quần áo và nữ trang, chơi cá độ và số đề đến mắc nợ vì tiền đem theo tiêu gần hết. Một sự tiêu pha lãng phí vì tiền kiếm được dễ dàng do trúng mối bán đất vườn. Đến đây dường như tác giả nghiêng về mô tả tính tham lam của người do bản chất tự nhiên hơn là bị đưa đẩy do thời kinh tế thị trường. Tính tham lam đưa tới đam mê đánh số đề, rồi gỡ nợ bằng chuyện đi buôn lậu thuốc lá đưa về từ Thái Lan. Chuyến đầu trót lọt, chuyến sau bị công an vay bắt mất hết vốn mà còn bị phạt nặng, may nhờ còn tiền chơi hụi để nộp phạt. Ba Thợ buồn đi lang thang trên phố Kinh Xáng nay đầy quán ăn chơi và nhiều tệ nạn xã hội và sắp đến hồi tàn phá môi trường thôn dã của Kinh Xáng. Tình cờ Ba Thợ gặp lại hai cha con người hát rong, và Ba Thợ thú nhận sự giàu sang đến quá sớm và dễ dàng là một tai họa cho gia đình mình. Qua các câu vọng cổ, Ba Thợ ước mong trở lại nghề hớt tóc dạo và đàn ca tài tử như xưa. Với các giao động cuộc đời như trên của nhân vật Ba Thợ, ta không thấy gì màu sắc chính trị xét lại nên hay không nên theo kinh tế thị trường hay kinh tế hợp tác xã tập thể, chỉ là chuyện của một cá nhân có bản chất thích ngao du, ưa ca hát và nhiều tự ái. Như vậy thì có thể nói tác giả Nguyễn Hồ vừa khuynh hướng viết tiểu thuyết hư cấu vừa khuynh hướng viết truyện dài phản ánh thời đại. Chỉ với nhân vật ông Năm Cải và Chủ Tịch Xã Mười Phải, ta mới thấy rõ khuynh hướng phản ánh thời đại và thấy rõ sự trăn trở biểu hiện thời kỳ từ xã hội chủ nghĩa sang kinh tế thị trường theo định hướng chỉ đạo của đảng Cộng sản. Năm Cải thuộc khuynh hướng thực thi xã hội chủ nghĩa, nào đẩy giới tư hữu về vùng kinh tế mới, nào biến các cơ sở tư nhân thành tổ hợp và hợp tác xã; mọi ưu thế dành cho nông dân vì biết rằng đầu óc quen mưu lơi tư sản như Tư Hơn dù trong hoàn cảnh nào cũng có thể xoay sở, và quả đúng như vậy: bị đưa về vùng kinh tế mới thì chẳng bao lâu lại làm giàu; bị lật ngược tình thế do thay đổi đồ án quy hoạch khu du lịch sinh thái thì lại huy động nhiều người góp vốn mua hết đất vườn chưa bán để lập ra khu vườn cây ăn trái chất lượng cao (vừa thu nhập kinh tế lớn, vừa giữ được tính chất sinh thái hơn là biến tất cả thành phố xá). Mười Phải thì hiện thân khuynh hướng trăn trở, xét lại nên hay không nên triệt để thi hành; vì vậy có khi nghiêng về ý kiến hữu lý của Tư Hơn muốn duy trì tính chất sinh thái đừng biến đổi tất cả thành phố xá, có khi nghiêng về ý kiến của Năm Cải, có khi dành ưu thế cho nông dân, có khi bênh vực giới tư sản bị khốn đốn vì vay nợ ngân hàng; nên Mười Phải bị gọi là ông Ba Phải. Nhan đề của truyện dài này là chuyện tình trên Kinh Xáng, nhưng ta không thấy tình tiết lâm ly của một chuyện tình lãng mạn, không có những trang tình tự thơ mộng, chẳng có những gút mắt ngang trái làm rơi lệ. Chỉ là chuyện tình của hai nhân vật người nào cũng giữ thể diện ở giai cấp của mình: Ba Thợ cứ ấm ức mình là người làm thuê làm mướn cho Tư Hơn; còn Tư Hơn được miễn đi vùng kinh tế mới mà vẫn hy sinh tình cảm với Ba Thợ để nhất quyết theo cha mẹ; trong khi có thể giải quyết bằng cách cứ đi đi về về, vì vùng kinh tế An Đồng không xa chi mấy với Kinh Xáng. Lồng vào đó là chuyện tình của thế hệ thứ hai giữa Thông (con trai của Tư Hơn, quản lý tiệm hớt tóc cho mẹ) và Hạ (con gái của Năm Cải, cô là nhà báo đi theo cha để viết bài về Kinh Xáng). Mối tình này có vẻ lãng mạn hơn, có những chỗ đẹp như đoạn nói về cuộc đi dạo bằng xuồng vào vườn chim, nơi hứa hẹn thu hút du khách viếng khu du lịch sinh thái Kinh Xáng sắp xây dựng, cũng là nơi bị những người mở quán tự do kinh doanh tàn phá môi trường thiên nhiên do thuê mướn bẫy chim, do vậy cũng là nơi Thông bị đám người bẫy chim đánh cho một trận vì ngăn trở họ. Có lần Thông nhảy sông định tiếp cứu Hạ tắm sông đang bơi vào chỗ nước sâu dưới gầm cầu, nhưng chính là Thông bị nguy khốn, nhờ Hạ đưa vào bờ. Sau những hồi ngang trái vì Năm Cải ngăn cản mối tình của họ, bắt Hạ quay trở về sài Gòn, bao gồm một pha gây cấn khi Thông lén lên xe đò đi theo với Hạ đến Sài Gòn. Nhưng sau khi đưa Hạ đến nơi, Thông quay về ngay. Rồi ngã bệnh trầm cảm nặng, Hạ phải trở lại Kinh Xáng do sự cầu khẩn của Tư Hơn. Đoạn cuối có ý nghĩa: Một hôm, Hạ và Thông đi trên sông, chứng kiến một vụ xuồng lật, họ cùng nhảy sông giúp người, tin tức lan ra làm cho Tư Hơn hốt hoảng cầu cứu cùng khắp. Cuối cùng Thông và Hạ đều lội được vào bờ; cứu người; và tự cứu mình với nghĩa bóng nay không còn trở ngại nào cho mối tình của họ.         
 
Tính giai cấp trong truyện dài này không đậm nét như trong truyện dài “Sóng Ở Đáy Sông” của nhà văn Lê Lựu. Tác giả lấy sóng ngầm ở đáy sông để làm ẩn dụ sự phân chia giai cấp, giữa người đàn bà làm công trong nhà với ông chủ dan díu ăn ở với bà đến ba mặt con mà vẫn còn đối xử khinh miệt. Sóng giai cấp vẫn âm ỉ dù họ đã sống dưới chế độ xã hội chủ nghĩa từ 1954. Tính giai cấp là đề tài đã cũ của văn nghệ xã hội chủ nghĩa  được khơi lại thời xã hội đổi mới theo hướng kinh tế thị trường. Cốt truyện quay về xã hội Miền Bắc sau năm 1954, trong khi truyện dài “Xóm Vắng” của nhà văn Dương Thu Hương thì cốt truyện xảy ra sau 1975 với vấn đề cũng phức tạp là chuyện gì đã xảy ra với các thương binh tật nguyền trở lại với gia đình, vài người bị bất lực về chăn gối, hoặc vợ đã qua tay người khác vì tưởng rằng chồng đã mất tích không còn hy vọng trở về. Lấy thời điểm 1954 và 1975 để lặp lại một lần nữa là các truyện dài hay tiểu thuyết đồ sộ mới chuyên chở nổi bao nhiêu điều phức tạp thuộc bình diện quốc gia, đất nước; sau hai niên biểu dễ nhớ trên. Trong khi văn chương hải ngoại không bao trùm xã hội lên cấp quốc gia, mà là xã hội của những người lưu vong mang tâm thức chính trị, hoặc di dân mang tâm thức đi tìm nơi sinh sống mới. Một xã hội thu mhỏ lại, cũng như Sài Gòn Nhỏ không phải như Sài Gòn, Litle Tokyo không phải như Tokyo, Korean Town không phải như Korea... Phạm vi nhỏ thì cần những phản ánh nhỏ, và phản ánh nhỏ không gì dễ hơn qua hình thức thi ca. Dễ mà thành khó, bởi vì thơ không mất công nhiều, nhưng thơ cho thật đạt thì thuộc về nghệ thuật do rung cảm của tâm hồn. Thơ như một phối âm thật hay; khác với tạp âm ồn ào của thành phố hay đa âm đều đều của tháng ngày buồn hiu, hoặc đơn âm làm buồn ngủ của tiếng đọc bài thiếu cảm hứng. Ngoài những hồi ký chính trị của các nhân vật thuộc chính quyền chế độ trước ở Miền Nam, những cuốn sách đồ sộ nhưng có thể không do tự nhân vật lịch sử viết ra, vì vậy không lưu lại dấu vết tính cách hành văn biểu lộ tâm hồn; với cách thức trình bày chi tiết cho người khác viết; việc giao câu chuyện cho người viết mướn thường có ở Hoa Kỳ. Đồ sộ đó không phản ánh từ những phức tạp xã hội thuộc cấp quốc gia, mà đồ sộ từ những chồng chất sự kiện thời cuộc của hai chục năm chiến tranh ở Miền Nam. Truyện dài hay tiểu thuyết đồ sộ hiếm có ở hải ngoại vì lý do không cần thiết phản ánh xã hội phức tạp trên bình diện quốc gia trăn trở chuyển mình, trên bình diện đất nước sinh động bởi những dằn co từ thể chế cách sinh hoạt này bước qua thể chế cách sinh hoạt khác. Phức tạp ở hải ngoại đong đưa giữa hội nhập hay chưa hội nhập; lưu vong chính trị hay di dân kinh tế; thế hệ thứ nhất và thế hệ một rưởi và thế hệ thứ hai; việc làm do quan hệ mua bán giữa cộng đồng và việc làm thâm nhập vào thị trường người bản xứ; tình yêu còn giữ được nề nếp truyền thống và tình yêu theo kịp văn minh khai phóng; nhà còn phải thuê mướn hay đã có nhà riêng, dù to hay nhỏ; hoặc xe cộ mới sắm sanh; sức khỏe là vàng nơi xứ mà bảo hiểm y tế quá đắt đỏ... Tất cả là những vấn đề tuy cũng phức tạp nhưng có thể biểu hiện trong truyện ngắn, truyện vừa, hoặc thi ca; không cần thiết nhờ hình thức đồ sộ của truyện dài hoặc trường thiên tiểu thuyết, ngoại trừ “Mùa Biển Động” của nhà văn Nguyễn Mộng Giác là một ngoại lệ vì tác giả đã huy động cả một thời lịch sử dài gần ba mươi năm của Miền Nam từ 1954 kéo dài đến thời kỳ ở hải ngoại cuối thập niên 1980, do đó nó là tiểu thuyết lịch sử, không phải tiểu thuyết phản ánh xã hội mà ta muốn nhấn mạnh trong bài này; và do đó nó cũng đồ sộ như các hồi ký của các tướng lãnh và chính khách chế độ Miền Nam, chỉ khác ở tính cách hư cấu và hành văn. Tác phẩm “Tháng Ba Gãy Súng” của nhà văn Cao Xuân Huy hay các tác phẩm liên hệ đến chiến tranh của Trần Hoài Thư, Thảo Trừơng, Khánh Trường... đều là truyện vừa vì chỉ đóng khung trong một thời gian ngắn của chiến tranh tại Miền Nam. Thi phẩm là hiện tượng dồi dào mà buồn hiu tại hải ngoại. Nó phản ánh hội chứng của lớp người lớn tuổi nơi hải ngoại; vậy cũng là phản ánh, nhưng không do phức tạp tính xã hội mà do tâm cảm siêu hình của đời người. Nhưng thi ca hải ngoại cũng có thể chia ra hai ngành hội chứng: hội chứng hướng về bình minh và hội chứng hướng về chiều tà, nội hai biểu tượng đó đủ nói lên lớp tuổi nào thuộc về hội chứng nào, nhưng không phải tuyệt đối phân biệt, vì có người còn trẻ mà đã có khuynh hướng ký thác, người tuổi cao mà vẫn nhiệt tình ủng hộ chủ nghĩa hiện đại hướng về điều tân kỳ. Sáng tạo cái gì mới, đóng góp cái gì chưa ai khai thác, đó là hướng về tân kỳ: tân kỳ về từ ngữ, tân kỳ về văn thể, tân kỳ về đề tài, tân kỳ cảnh giới hải ngoại. Gửi gắm cho mai sau, dăm ba điều nhắc nhở thế hệ trẻ, đó là hướng về ký thác: ký thác bằng mượn lời của tôn giáo, ký thác bằng những kinh nghiệm gửi lại cho đời, ký thác hướng về cảnh giới đời sau, ký thác cho đi tìm lại dĩ vãng và quê hương. Kiểm điểm một số thi phẩm mà người viết bài này đang có trong tay, hoặc là do mua, tình cờ nhặt được, hoặc do tác giả gửi tặng, thấy rằng đa số thi phẩm thuộc hội chứng ký thác, một số ít thuộc hội chứng đóng góp tân kỳ. Có người sẽ hỏi vậy thì thơ tranh đấu, thơ chính trị, thơ hiện thực phê phán... thuộc hội chứng nào. Theo thiển nghĩ, hội chứng thuộc về tâm bệnh, bệnh yêu văn chương (văn chương thuần túy), bệnh sầu cảm chiều tà của đời người; còn lo toan cho chính trị cho tranh đấu thì không phải tâm bệnh, nên văn chương hướng về những điều đó không thuộc hội chứng nào. Yêu văn chương thuần túy mà lại là tâm bệnh thuộc về hội chứng hay sao? Vậy thì yêu nghệ thuật thuần túy cũng thuộc hội chứng? Là hội chứng đối với người quá thực tế lo mưu cầu sự sống hàng ngày cho gia đình, cạnh tranh thương mại để được giàu sang phú quý; nhưng không là hội chứng đối với người vừa lo toan cho thế sự vật chất vừa đeo đuổi sự nghiệp tinh thần, đúng như lời một nhà thơ xưa (Tú Xương) đã phát biểu trong bài thơ Khôn Dại: “Khôn nghề cờ bạc là khôn dại/ Dại chốn văn chương ấy dại khôn”. Còn hướng về dĩ vãng ấu thời, hướng về niềm tin tôn giáo cho đời sau, và hướng về kỷ niệm quê hương, có phải là hội chứng tâm bệnh hay không? Ta có thể nói là tâm bệnh hay chỉ là tâm cảm, tùy theo người sáng tác đưa hồn nghiêng đậm vào sầu não, hay chỉ phơn phớt biểu hiện một vài ý tưởng siêu hình hoặc thương nhớ dĩ vãng. Chỉ là hội chứng khi tác giả nói nhiều hay nghiêng nặng về điểm nào đó qua một vài từ ngữ thường vãng lai, hay một ám ảnh thường lặp lại trong thơ. Hội chứng không có nghĩa xấu, mà là từ ngữ chỉ lằn ranh cho ta có thể viết mà không sai lầm khi bàn về thơ, luận về khuynh hướng của thi nhân, dễ từ đó trích dẫn để minh họa. Nghiêng về chiều hướng ký thác do tuổi tác hoàng hôn, do ở trong hoàn cảnh thu nhỏ khác với ở trong môi trường lớn thuộc bình diện xã hội một quốc gia. Thêm vào đó, do kỹ thuật và giá cả in ấn không mấy khó khăn, tự mình có thể trình bày lay-out sách tùy ý thích, cho nên thi phẩm xuất hiện thật nhiều. Ai cũng có thể để lại cho đời một ít dấu vết qua thi phẩm, sợ bị lãng quên hơn là có tham vọng làm nhà thơ lớn. Sắp xếp lại các thi phẩm, ta có thể bày biện ra thành hai bên, một bên mang các tựa đề thử nghiệm hay khai phá hoặc sáng tạo, một bên mang các tựa đề hoài niệm hay gửi gắm. Một vài tác phẩm rõ nét ở về một phía, nhưng nhiều tác phẩm trộn lẫn vừa ký thác vừa lệch qua hướng sáng tạo đóng góp dăm ba điều mới cho thi ca. Về hướng đi tìm tân kỳ, ta chưa thể đi sâu vào hình thức và nội dung thơ: có thể hình thức mới nhưng nội dung cũ, có thể hình thức cũ mà nội dung hay đề tài mới, và nếu hình thức là hệ quả của nội dung thì đó là điều quý hiếm. Vài thi phẩm tiêu biểu do nhan đề xác định, tuy nhiên cần có các nhà phê bình nghiên cứu xem có đạt như nhan đề biểu hiện hay không, như “Hóa Ra Nét Chữ Lên Đàng Quẩn Quanh” của Ngu Yên (xuất bản năm 1986), “Chế Tạo Thơ” của Phan Nhiên Hạo (xuất bản năm 2004), “Gene Đại Dương” của Hà Nguyên Du (xuất bản năm 2003), “Yên Đi” của Lưu Hy Lạc (xuất bản năm 1999). Hoặc có người sử dụng các nhan đề mang ý hướng muốn trình bày lý thuyết như “Thơ Thử Nghiệm” hay “Thơ Với Đề Tài Khác Lạ”. Cũng cần nói rõ thì đôi khi chính người có thể gọi là thủ lãnh một trường phái thi ca lại không có thi phẩm với nhan đề xác quyết hoặc bộc lộ tân kỳ hoặc có vẻ giải thích như vậy. Nêu ra vài ví dụ rõ nét chỉ để làm sáng tỏ lằn ranh “hội chứng tân kỳ” hay “hội chứng ký thác”. Phía ký thác phần lớn mang những nhan đề gợi cảm hay mơ hồ thoáng thấy biết ngay đó là thi phẩm, không lẫn với truyện hay bút ký. Chỉ có vài nhan đề rõ ràng muốn gưỉ gắm cảm nghĩ vô thường cho đời mà thôi, như “Cõi Tạm” (xuất bản năm 1992) và “Vẫn Còn Cõi Tạm” (xuất bản năm 1999) của Ngọc Hoài Phương, “Trăm Năm Để Lại” của Trần Vấn Lệ (xuất bản năm 2005). Hoặc ký thác bằng mượn đôi lời của tôn giáo (rất nhiều thi phẩm loại này, nhưng lắm lúc cũng đáng bàn khi tác giả trộn lẫn làm giao thoa nhiều đức tin tôn giáo như trong tập thơ “Đóa Vô Thường” của Hoàng Dũng xuất bản năm 2003). Những câu thơ trích dẫn dưới đây để minh họa ở trong các tác phẩm ký thác ấy. Thơ ký thác gửi lại cho đời đôi khi gần với tình ca, nhưng nghiêng nặng phía bi ca cõi mất hơn phía hoan ca cõi còn. Cõi còn, tức còn nhiều hệ lụy, là thơ tình. Việc sưu tầm trích dẫn “Những Câu Thơ Tình Xuất Sắc” (mà những thi phẩm kể trên cũng không hẳn không có dăm ba câu) cần phải dành một chương thật dài mới chứa đựng nổi bao nhiêu câu thơ hay được sưu tầm trong rất nhiều thi phẩm xuất bản ở hải ngoại, những thi phẩm nằm ngoài hai hội chứng Tân Kỳ và Ký Thác... Đặc tính chung, thơ ký thác chú trọng về tâm cảm hơn cấu trúc hình thức thơ như ngôn từ hoặc thể thơ; do đó ta thường vội nghĩ thơ của họ như lặp lại những ý tưởng trong kinh Phật, hoặc những tình ý bao nhiêu người đã từng đề cập. Không vì thế mà thiếu sự riêng biệt, và riêng biệt ở chỗ truyền cảm hay không, cũng tựa như lời diễn tả trùng ý mà khác biên độ ở giọng nói làm ngừng lại nơi hồn ta, hay trôi đi không một âm vang. Ví dụ trong bài thơ “Mang theo”, nhà thơ Huy Trâm làm ta bâng khuâng theo lòng bâng khuâng của tác giả sau khi ông đi khám bệnh biết mình mắc bệnh nan y: “Lo nghĩ, cũng vậy thôi/ đời đến đâu hay đó/ trần gian, chuỗi đổi đời/ có sinh là có tử... Về ngả lưng tư lự/ lâng lâng buồn nắng trưa/ khép hàng mi đợi ngủ/ chợt vang tiếng còi xa... Bấy lâu nghe tàu qua/ trưa nay nghe thấy khác/ có chút gì thiết tha/ trong buồn trưa man mác... có một điều rất chắc/ là mốt mai lìa đời/ Về cõi xa, xa tắp/ còn thương trưa nắng phai”. (Trích trong phụ bản Quán Văn của Nhật Báo Người Việt, số ra ngày 15/ 6/ 2005).  Hoặc như nhà thơ Ngọc Hoài Phương, nói một điều bình thản về sinh tử cũng giống nhiều người đã nói bằng bấy nhiêu thứ chữ diễn tả sắc không, nhưng nghe sao mà rất tàn nhẫn cho đời người: “Có chi đâu / Phải vội vàng/ Trước sau rồi cũng/ xếp hàng theo nhau” (Trích trong bài Phá Chấp); và nhà thơ thẩm thấu nỗi buồn cô đơn của nhà văn Mai Thảo liệu có còn một mình trơ trọi ở kiếp sau: “Một mai/ xa dấu chân người/ Cõi riêng/ ta vẫn rượu mời riêng ta” (Trích trong bài Cõi Riêng). Nhà thơ Hoàng Dũng cũng mượn các ý tưởng Phật giáo như bao người khác mượn lời kinh kệ đã truyền bá lâu đời, nhưng vài chỗ tác giả như trộn lẫn niềm tin đạo Phật với niềm tin Tụ Tán Hư Không của triết lý Trang Tử, rồi với niềm tin Thiên Chúa ở cõi Trời: “Tình tôi kết tụ từ muôn kiếp/ Biến thái luân hồi một đóa hoa (Trích trong bài Đóa Vô Thường)... Mây bay xa đi tìm vùng gió bến/Gió khuất rồi tìm bến gió ở đâu/ Bởi vô biên nên bến gió không bờ/ Làm sao thấy khi từng cơn gió hú (Trích trong bài Bến Vô Biên)... Gió hú mây nguồn tuôn chín hướng/ Không gian mở hội- Cửu trùng mây/ Con “Lốc” vô tình mang cát bụi/ Bụi cát trần gian trở về trời” (Trích trong bài Đỉnh Gió). Nhà thơ Trần Vấn Lệ có những lời từ biệt người quá cố rất độc đáo theo lối nhà binh, do đã từng chứng kiến những mất mát của bạn bè trong cuộc chiến tranh, một chút gì trăm năm để lại viết cho bạn mà cũng là viết cho mình. Nói trăm năm mà thâm tâm ngậm ngùi sự thoáng chốc của kiếp người: “Long Ân! Thôi nhé! Chào anh nhé? Một cách trang nghiêm rất tận tình/ Mình lính, tới đây còn chút lính/ Chào anh, tôi lặng lẽ chào anh” (Trích trong bài Vĩnh Biệt Long Ân).
                                       
TRẦN VĂN NAM     
* Ghi chú: Trong sách, không phải qua phim truyện sửa đổi vài tình tiết, thực sự Bà Son không mất tích mà chết đuối trong cơn khủng hoảng chạy trong đêm tối nơi bờ sông, và tác giả làm ta mơ hồ không rõ do bà tự tử hay trượt té đưa tới cái chết: “Có tiếng nước chảy ồ ồ phía trước. Bà Son hào hển lao tới, như đấy là nơi giải thoát duy nhất đang chờ đón”. (“Mảnh Đất Lắm Người Nhiều Ma” do nhà xuất bản Hồng Lĩnh ở California ấn hành năm 1991).